004 Giấc Mơ của Một Đại Đế

4,206 views

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla (Mỹ Linh)

Sau khi dân I-sơ-ra-ên vào trong đất hứa Ca-na-an, trải qua ba vương triều thịnh trị nhất trong lịch sử của I-sơ-ra-ên, thì vì sự phạm tội thờ hình tượng của Vua Sa-lô-môn vào lúc cuối đời, mà sau khi ông qua đời, Thiên Chúa đã phân rẽ nước I-sơ-ra-ên thành hai vương quốc vào năm 930 TCN. Vương quốc phía bắc, bao gồm 10 chi phái, giữ nguyên tên là I-sơ-ra-ên; vương quốc phía nam, bao gồm hai chi phái Giu-đa và Bên-gia-min, lấy tên là Giu-đa. Sau khi bị phân rẽ thành hai vương quốc, dân I-sơ-ra-ên thuộc hai vương quốc vẫn tiếp tục phạm tội, chống nghịch Thiên Chúa. Vào năm 722 TCN, vương quốc I-sơ-ra-ên đã bị xóa tên bởi Đế quốc A-sy-ri và vào năm 587 TCN, vương quốc Giu-đa đã bị xóa tên bởi đế quốc Ba-by-lôn, còn gọi là đế quốc Canh-đê. Ba-by-lôn là tên kinh đô của đế quốc, còn Canh-đê là tên của dân tộc. Dân tộc Canh-đê và dân tộc I-sơ-ra-ên đều ra từ Sem, con trai út của Nô-ê.

Trước khi chính thức xoá tên vương quốc Giu-đa, thì vào năm 606 TCN, Vua Nê-bu-cát-nết-sa Đệ Nhị (Nebuchadnezzar II) của đế quốc Ba-by-lôn đã đem quân đánh chiếm thành Giê-ru-sa-lem, trừng phạt Vua Giê-hô-gia-kim của vương quốc Giu-đa, về tội liên minh với đế quốc Ai-cập chống lại đế quốc Ba-by-lôn. Thánh Kinh chép về cuộc chiến này như sau:

Trong đời của ông, Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, xâm lấn. Giê-hô-gia-kim thần phục người trong ba năm, rồi ông đổi ý và phản nghịch người.” (II Các Vua 24:1).

Năm thứ ba của triều đại Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, thì Nê-bu-cát-nết-sa, vua Ba-by-lôn, đến thành Giê-ru-sa-lem và bao vây. Chúa phó Giê-hô-gia-kim, vua Giu-đa, và một số vật dụng của nhà Đức Chúa Trời vào tay người. Người đem các vật dụng ấy về đất Si-nê-a, vào đền của thần mình, để trong kho của thần mình.” (Đa-ni-ên 1:1-2).

Vua Nê-bu-cát-nết-sa cũng truyền lệnh cho thái giám trưởng của mình là Át-bê-na, bắt những thanh niên tài giỏi, có học và xinh đẹp trong vòng quý tộc của xứ Giu-đa, mang về phục vụ trong cung điện Ba-by-lôn, mở đầu cho thời kỳ 70 năm lưu đày của dân I-sơ-ra-ên. Trong số những người bị bắt đó, có một người tên là Đa-ni-ên và ba người bạn của ông. Vua Nê-bu-cát-nết-sa chuộng tài của Đa-ni-ên và ba người bạn của ông, nên cắt cử họ đứng chầu trước mặt vua trong vai trò cố vấn (Đa-ni-ên 1:3-21), và sau đó, giao quyền cai trị kinh đô Ba-by-lôn cho ba người bạn của Đa-ni-ên.

Vào năm thứ nhì của triều đại Nê-bu-cát-nết-sa thì có một biến cố quan trọng xảy ra, được chính tay Đa-ni-ên ghi lại trong Thánh Kinh, sách Đa-ni-ên, đoạn 2, như sau:

1 Trong năm thứ nhì của triều đại Nê-bu-cát-nết-sa, Nê-bu-cát-nết-sa mơ thấy các chiêm bao, thì tâm thần của ông bối rối, và ông bị mất ngủ.

2 Vì thế, vua truyền gọi các thuật sĩ, các nhà chiêm tinh, các phù thủy, và những người Canh-đê, để giải nghĩa các chiêm bao cho vua. Họ đến, đứng trước vua.

3 Vua nói với họ: Ta đã mơ thấy một chiêm bao, và tâm thần ta bối rối, muốn biết chiêm bao đó.

4 Những người Canh-đê nói với vua bằng tiếng A-ra-mai rằng: Hỡi vua! Chúc vua sống mãi! Xin thuật chiêm bao cho những kẻ tôi tớ của vua, và chúng tôi sẽ giải nghĩa.

5 Vua trả lời và nói với những người Canh-đê: Sự ấy đã ra khỏi ta. Nếu các ngươi không nói cho ta biết chiêm bao đó và giải nghĩa nó, thì các ngươi sẽ bị phân thây, nhà của các ngươi sẽ trở nên đống phân.

6 Nhưng nếu các ngươi tỏ ra giấc chiêm bao và lời giải nghĩa, thì các ngươi sẽ được các sự ban cho, các phần thưởng, và sự vinh quang lớn từ nơi ta. Vậy, hãy tỏ cho ta giấc chiêm bao và lời giải nghĩa.

7 Họ lại đáp lời và nói: Xin vua kể chiêm bao cho những kẻ tôi tớ của vua, và chúng tôi sẽ giải nghĩa.

8 Vua trả lời và nói: Ta biết chắc các ngươi tìm cách để kéo dài thời gian, bởi vì các ngươi thấy sự ấy đã ra khỏi ta.

9 Nhưng, nếu các ngươi không tỏ cho ta biết giấc chiêm bao, thì chỉ có một luật cho các ngươi cho đến khi thời gian sẽ thay đổi, vì các ngươi đã đồng ý với nhau đem những lời dối trá, bậy bạ mà nói trước ta. Vậy, hãy nói với ta giấc chiêm bao, thì ta sẽ biết rằng, các ngươi có thể tỏ cho ta biết ý nghĩa.

10 Những người Canh-đê đáp lời trước vua và nói: Chẳng có một người nào trên đất mà có thể tỏ ra việc của vua. Vậy nên, chẳng có vua nào, chúa nào, người cai trị nào hỏi những việc như vậy nơi một thuật sĩ, hay một nhà chiêm tinh, hay một người Canh-đê nào.

11 Sự mà vua yêu cầu là một sự hiếm có, và không một ai khác có thể tỏ nó ra trước vua, ngoại trừ các thần linh là những đấng không ở với loài xác thịt.

12 Vậy nên, vua tức giận và nổi cơn thịnh nộ, truyền lệnh tiêu diệt tất cả những nhà thông thái của Ba-by-lôn.

13 Vì thế, chiếu chỉ được ban ra để giết những nhà thông thái. Người ta tìm Đa-ni-ên và các bạn của ông để giết.

14 Bấy giờ, Đa-ni-ên, với sự thận trọng và khôn khéo, đáp lời A-ri-ốc, đội trưởng quân cận vệ của vua, là người đã đi ra để giết những nhà thông thái của Ba-by-lôn.

15 Ông đáp lời và nói với A-ri-ốc, trưởng quan của vua: Sao lại có chiếu chỉ khẩn cấp ấy từ vua? Vậy, A-ri-ốc kể cho Đa-ni-ên rõ sự việc.

16 Đa-ni-ên đi vào, xin vua cho ông một thời gian, để ông sẽ tỏ cho vua lời giải nghĩa.

17 Kế đó, Đa-ni-ên trở về nhà mình, và tỏ sự ấy cho các bạn của mình là: Ha-na-nia, Mi-sa-ên, và A-xa-ria,

18 để họ cầu xin sự thương xót của Thiên Chúa ở trên trời, liên quan đến sự kín nhiệm này, để cho Đa-ni-ên và các bạn của ông không bị diệt với những nhà thông thái khác của Ba-by-lôn.

19 Vậy, sự kín nhiệm được tỏ ra cho Đa-ni-ên trong một sự hiện thấy ban đêm. Và Đa-ni-ên tôn vinh Thiên Chúa ở trên trời.

20 Đa-ni-ên cất tiếng thưa: Nguyện danh Thiên Chúa được tôn vinh từ đời này qua đời kia! Vì sự khôn ngoan và quyền năng đều thuộc về Ngài.

21 Ngài thay đổi thì giờ và mùa. Ngài bỏ và lập các vua. Ngài ban sự khôn ngoan cho những nhà thông thái, và ban tri thức cho những người hiểu biết.

22 Ngài tỏ ra những sự sâu xa và kín nhiệm. Ngài biết những gì ở trong sự tối tăm, và sự sáng ở với Ngài.

23 Hỡi Thiên Chúa của các tổ phụ tôi! Tôi cảm tạ và tôn vinh Ngài, Đấng đã ban cho tôi sự khôn ngoan và quyền năng, và đã khiến cho tôi biết điều chúng tôi cầu hỏi Ngài, vì Ngài đã tỏ ra cho chúng tôi việc của vua.

24 Vậy, Đa-ni-ên đi đến với A-ri-ốc, là người vua đã truyền cho diệt những nhà thông thái của Ba-by-lôn. Ông đến và nói với người như sau: Đừng diệt những nhà thông thái của Ba-by-lôn. Hãy đưa tôi vào trước vua, và tôi sẽ tỏ cho vua sự giải nghĩa.

25 Bấy giờ, A-ri-ốc vội vàng đem Đa-ni-ên đến trước vua, và thưa như sau: Tôi đã tìm thấy một người trong dân Giu-đa bị bắt làm phu tù, người ấy sẽ cho vua biết sự giải nghĩa.

26 Vua đáp lời và nói với Đa-ni-ên, là người được gọi là Bên-tơ-xát-sa: Có phải ngươi có thể tỏ cho ta biết giấc chiêm bao ta đã thấy và lời giải nghĩa?

27 Đa-ni-ên đáp lời và nói trước sự hiện diện của vua: Sự kín nhiệm mà vua đã hỏi, thì những nhà thông thái, những nhà chiêm tinh, những thuật sĩ, và những thầy bói đều không có thể tỏ cho vua được.

28 Nhưng có một Thiên Chúa ở trên trời tỏ ra những sự kín nhiệm; và đã cho Vua Nê-bu-cát-nết-sa biết những điều sẽ xảy ra trong những ngày sau. Giấc chiêm bao của ngài và các sự hiện thấy của đầu ngài trên giường mình là như thế này:

29 Hỡi vua! Những tư tưởng của ngài đến trên giường của Ngài về những sự xảy ra sau này. Đấng bày tỏ sự kín nhiệm đã cho ngài biết những sự sẽ xảy ra.

30 Về phần tôi, sự kín nhiệm đó đã tỏ ra cho tôi, không phải vì tôi có sự khôn ngoan hơn người sống nào; nhưng để giải nghĩa cho vua biết, và để ngài biết những ý tưởng của lòng mình.

31 Hỡi vua! Ngài nhìn xem, và này, có một pho tượng lớn. Pho tượng lớn đó rực rỡ lạ thường, đứng trước ngài, và có hình dạng dữ tợn.

32 Đầu pho tượng này bằng vàng ròng; ngực và các cánh tay bằng bạc; bụng và vế bằng đồng;

33 các chân bằng sắt; các bàn chân thì một phần bằng sắt, một phần bằng đất sét.

34 Ngài nhìn cho đến khi có một khối đá chẳng phải bởi tay đục ra, đập vào các bàn chân bằng sắt và đất sét của tượng, và làm cho nó bị tan nát.

35 Bấy giờ, sắt, đất sét, đồng, bạc, và vàng đều cùng nhau tan nát, trở nên như rơm rác bay trên sân đạp lúa mùa hạ, và bị gió đùa đi, chẳng tìm được nơi nào cho chúng nó. Nhưng khối đá đã đập vào pho tượng thì trở thành một núi lớn và làm đầy khắp đất.

36 Đó là giấc chiêm bao. Bây giờ, chúng tôi sẽ giải nghĩa ra trước vua.

37 Hỡi vua! Ngài là vua của các vua, vì Thiên Chúa trên trời đã ban cho ngài vương quốc, quyền lực, sức mạnh, và sự vinh quang,

38 đã trao trong tay ngài những con cái loài người ở bất cứ nơi nào, những thú đồng và những chim trời, và đã làm cho ngài thành người cai trị hết thảy. Ngài là cái đầu bằng vàng ấy.

39 Sau ngài, sẽ có một vương quốc khác nổi lên, kém hơn ngài; rồi một vương quốc thứ ba, tức là đồng, vương quốc ấy sẽ cai trị khắp đất.

40 Vương quốc thứ tư sẽ mạnh như sắt, vì sắt hay đập vỡ và bắt phục mọi vật. Như sắt nghiền nát mọi sự, nó sẽ nghiền nát và đập vỡ.

41 Còn như ngài đã thấy các bàn chân và các ngón chân một phần bằng đất sét, một phần bằng sắt; ấy là một vương quốc sẽ phải phân chia ra, nhưng trong nó sẽ có sức mạnh của sắt, như ngài đã thấy sắt lẫn với đất sét.

42 Các ngón chân một phần bằng sắt, một phần bằng đất sét, thì vương quốc đó cũng một phần mạnh và một phần bị vỡ.

43 Như ngài đã thấy sắt lẫn với đất sét, chúng nó sẽ lẫn lộn với nhau bởi giống của loài người; nhưng chúng sẽ không dính cùng nhau, cũng như sắt không trộn với đất sét.

44 Trong đời của các vua này, Thiên Chúa trên trời sẽ dựng nên một vương quốc không bao giờ bị hủy diệt. Vương quốc ấy không bao giờ bị để lại cho một dân tộc khác. Nó sẽ đánh tan và hủy diệt hết các vương quốc kia; nó sẽ đứng cho đến đời đời;

45 như ngài đã xem thấy, khối đá đục ra từ núi, chẳng phải bởi tay, đã đập vỡ sắt, đồng, đất sét, bạc, và vàng. Thiên Chúa vĩ đại đã cho vua biết sự sau này sẽ đến. Giấc chiêm bao này là thật và lời giải nghĩa là chắc chắn.

46 Bấy giờ, Vua Nê-bu-cát-nết-sa hạ sấp mặt xuống, tỏ lòng tôn kính Đa-ni-ên, và truyền dâng lễ vật cùng đồ thơm cho ông.

47 Vua đáp lời Đa-ni-ên và nói: Thiên Chúa của ngươi thật là Thiên Chúa của các thần, và là Chúa của các vua, là Đấng tỏ ra những sự kín nhiệm, vì ngươi đã có thể tỏ ra sự kín nhiệm nầy.

48 Vậy, vua tôn cao Đa-ni-ên, ban cho ông nhiều lễ vật lớn, lập ông cai trị cả tỉnh Ba-by-lôn, và làm người đứng đầu tất cả những nhà thông thái của Ba-by-lôn.

49 Đa-ni-ên cầu xin vua lập Sa-đơ-rắc, Mê-sác, và A-bết-Nê-gô giám sát các công việc của tỉnh Ba-by-lôn; còn Đa-ni-ên thì ngồi nơi cửa của vua.

Những lời ký thuật trên đây trong Thánh Kinh chính là lời tiên tri thứ nhất từ Thiên Chúa, liên quan đến dòng lịch sử của nhân loại. Lời tiên tri này được mạc khải từ hơn 2,500 năm trước, cho Vua Nê-bu-cát-nết-sa Đệ Nhị của đế quốc Ba-by-lôn, trong một giấc chiêm bao. Ý nghĩa của lời tiên tri đã được giải bày bởi Đa-ni-ên, là một người I-sơ-ra-ên kính sợ Thiên Chúa, trong vai trò một tiên tri của Thiên Chúa.

Một đế quốc là một quốc gia hùng mạnh, có nhiều chư hầu, tức là có nhiều quốc gia khác chịu đầu phục, hoặc có nhiều thuộc địa. Xưa nay, có nhiều đế quốc trong lịch sử của loài người, tuy nhiên, qua giấc mơ của Vua Nê-bu-cát-nết-sa, Thánh Kinh chỉ tiên tri về bốn đế quốc có liên quan đến dân tộc I-sơ-ra-ên, và một chính quyền toàn cầu trong những ngày sau cùng. Bốn đế quốc và hệ thống chính quyền toàn cầu này sẽ lần lượt xuất hiện, rồi bị tiêu diệt theo thứ tự mà Thiên Chúa đã báo trước.

Pho tượng mà Vua Nê-bu-cát-nết-sa Đệ Nhị nhìn thấy trong chiêm bao tiêu biểu cho hệ thống chính quyền của loài người được hình thành từ năm 626 TCN, là năm đế quốc Ba-by-lôn được thành lập, và kéo dài cho đến ngày cuối cùng của Kỳ Tận Thế, khi Đức Chúa Jesus Christ tái lâm trên đất, tiêu diệt mọi thế lực cầm quyền của loài người, và thiết lập Vương Quốc Ngàn Năm của Ngài.

Hình minh họa pho tượng và hòn đá trong giấc mơ của Vua Nê-bu-cát-nết-sa
(Bùi Hồng Vũ)

 

 

Lời tiên tri trong Thánh Kinh

Sự kiện trong lịch sử

Đầu bằng vàng ròng.

Đế Quốc Ba-by-lôn (Babylonian Empire), (626 TCN – 539 TCN).

Ngực và cánh tay bằng bạc.

Đế Quốc Mê-đi và Phê-rơ-sơ (Medo-Persian Empire), (539 TCN – 333 TCN).

Bụng và vế bằng đồng.

Đế Quốc Hy-lạp (Grecian Empire), (333 TCN – 146 TCN).

Hai ống chân bằng sắt.

Đế Quốc La-mã (Roman Empire), (146 TCN – 70).

Hai bàn chân bằng sắt trộn đất sét.

Liên Hiệp Quốc (United Nations). Trong những ngày sau cùng, Liên Hiệp Quốc sẽ chia thế giới thành mười đặc khu, dưới quyền cai trị của mười đặc sứ, trong một hệ thống chính quyền toàn cầu, do AntiChrist (kẻ chống nghịch Đức Chúa Jesus Christ) cầm đầu. Sự kiện này sẽ xảy ra sau khi Đức Chúa Jesus Christ đem Hội Thánh của Ngài ra khỏi thế gian trong một ngày rất gần đây.

 

Nhìn vào toàn thể bức tượng trong giấc mơ của Vua Nê-bu-cát-nết-sa, chúng ta thấy mỗi đế quốc được tiêu biểu bằng một chất kim loại, đi từ loại có giá trị nhất và có tính mềm mại nhất, là vàng, sa sút dần đến loại có giá trị thấp nhất và có tính cứng rắn nhất, là sắt. Sau cùng, là hệ thống chính quyền toàn cầu với hỗn hợp sắt và đất sét, là hai chất có giá trị thấp nhất, với đặc tính cứng mà dòn, dễ bị tan vỡ. Giá trị của kim loại tiêu biểu cho sức mạnh kinh tế của chính quyền. Độ cứng của kim loại tiêu biểu cho sức mạnh quân sự của chính quyền. Theo dòng thời gian, sức mạnh kinh tế của các đế quốc suy yếu dần nhưng sức mạnh quân sự thì gia tăng. Tuy nhiên, trong hệ thống chính quyền toàn cầu, sức mạnh quân sự của chính quyền sẽ bị phân rã vì sự khủng hoảng kinh tế trầm trọng, để rồi cuối cùng, bị hủy diệt bởi chính Đức Chúa Jesus Christ, khi Ngài tái lâm trên đất.

Đế Quốc Ba-by-lôn (625 TCN – 539 TCN)

Vào năm 722 TCN, Thiên Chúa đã dùng đế quốc A-sy-ri để sửa phạt vương quốc I-sơ-ra-ên ở phía bắc, bao gồm 10 chi phái của dân I-sơ-ra-ên. Vương quốc I-sơ-ra-ên hoàn toàn bị xóa sổ và con dân I-sơ-ra-ên trong vương quốc bị phân tán đi làm phu tù khắp nơi trong đế quốc A-sy-ri. Thế nhưng, vương quốc Giu-đa ở phía nam đã không học được bài học đau thương đó, họ vẫn sống trong tội lỗi, mặc cho Tiên Tri Giê-rê-mi suốt 40 năm kêu gọi họ ăn năn. Tội lỗi đã làm băng hoại vương quốc Giu-đa, đến nỗi Tiên Tri Giê-rê-mi đã ghi lại lời phán của Thiên Chúa trong sách Giê-rê-mi 5:1-2, như sau:

Bây giờ, ngươi hãy chạy tới lui khắp các đường phố của Giê-ru-sa-lem, để nhìn xem và biết. Hãy tìm kiếm nơi các phố lớn, thử có thấy một người chăng. Nếu có một người làm sự công bình, tìm kiếm lẽ thật, thì Ta sẽ tha thứ (thành ấy). Dù chúng nó nói: Đấng Tự Hữu Hằng Hữu Hằng Sống! Thì chắc chắn là chúng chỉ thề dối!”

Đế quốc Ba-by-lôn đã được Thiên Chúa dùng làm ngọn roi sửa phạt vương quốc Giu-đa. Vì dân I-sơ-ra-ên phạm tội chống nghịch các điều răn của Thiên Chúa, trong đó có sự kiện họ đã không giữ 70 năm Sa-bát theo mệnh lệnh của Thiên Chúa, nên Ngài phạt họ phải chịu 70 năm bị lưu đày tại Ba-by-lôn. Thiên Chúa truyền cho dân I-sơ-ra-ên rằng, sau khi họ vào trong đất hứa Ca-na-an, thì cứ sau mỗi sáu năm họ phải để cho đất yên nghỉ một năm, và năm đó được gọi là năm Sa-bát (Sa-bát có nghĩa là nghỉ ngơi). Lời truyền ấy được ghi lại trong Thánh Kinh, sách Lê-vi Ký 25:1-7, như sau:

1 Đấng Tự Hữu Hằng Hữu phán với Môi-se tại trên núi Si-na-i rằng:

2 Hãy nói với con dân I-sơ-ra-ên! Hãy nói với chúng: Khi các ngươi đã vào trong xứ mà Ta sẽ ban cho các ngươi, thì đất sẽ giữ một Sa-bát cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

3 Trong sáu năm, ngươi sẽ gieo giống ruộng của ngươi; trong sáu năm, ngươi sẽ tỉa sửa vườn nho của ngươi; và sẽ thu hoạch thổ sản.

4 Nhưng năm thứ bảy sẽ là Sa-bát của Lễ Nghỉ cho đất, một Sa-bát cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Ngươi chớ gieo ruộng của ngươi và chớ tỉa sửa vườn nho của ngươi.

5 Ngươi chớ gặt những gì đã tự mọc lên trong mùa gặt của ngươi, và đừng hái nho của vườn nho không tỉa sửa của ngươi. Vì đó sẽ là một năm của Lễ Nghỉ cho đất.

6 Sa-bát của đất sẽ là thức ăn cho ngươi. Cho ngươi, cho tôi trai của ngươi, cho tớ gái của ngươi, cho kẻ làm thuê của ngươi, và cho kẻ ngoại bang kiều ngụ với ngươi,

7 cho gia súc của ngươi, và cho mọi sinh vật trong đất của ngươi, hết thảy thổ sản sẽ dùng làm thức ăn.

Thánh Kinh không nói rõ dân I-sơ-ra-ên không giữ năm Sa-bát từ khi nào. Họ đã có khi giữ và có khi không giữ, hay là suốt 490 năm họ đã không giữ năm Sa-bát, chúng ta không biết. Hình phạt 70 năm bị lưu đày tại Ba-by-lôn tương xứng với 70 năm Sa-bát của Thiên Chúa đã bị dân I-sơ-ra-ên bỏ qua! Hình phạt này kèm theo lời hứa phục hồi, được Tiên Tri Giê-rê-mi theo lệnh của Thiên Chúa, công bố trước khi Vua Nê-bu-cát-nết-sa Đệ Nhị đánh chiếm Giê-ru-sa-lem:

Đấng Tự Hữu Hằng Hữu phán như sau: Khi bảy mươi năm sẽ mãn tại Ba-by-lôn, Ta sẽ thăm các ngươi và sẽ làm trọn lời tốt lành của Ta cho các ngươi, khiến các ngươi trở về nơi này. Đấng Tự Hữu Hằng Hữu phán: Vì Ta biết những ý tưởng mà Ta nghĩ đến các ngươi, là những ý tưởng bình an, không phải tai họa, để cho các ngươi được sự trông cậy cuối cùng.” (Giê-rê-mi 29:10-11).

Dân I-sơ-ra-ên bị lưu đày tại Ba-by-lôn kể từ năm 606 TCN [1]. Cuộc lưu đày của dân I-sơ-ra-ên chia thành ba đợt, trải qua một khoảng thời gian 20 năm:

  1. Năm 606 TCN: Đa-ni-ên, ba người bạn của ông, và phần lớn con cháu các nhà quý tộc trong dân I-sơ-ra-ên bị lưu đày đến Ba-by-lôn (Đa-ni-ên 1:1-6).

  2. Năm 597 TCN: Vua Giê-hô-gia-kim và Vua Giê-hô-gia-kin cùng hoàng tộc của nước Giu-đa bị lưu đày đến Ba-by-lôn (II Sử Ký 36; II Các Vua 24:15-17).

  3. Năm 587 TCN: Thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt, dân chúng bị tàn sát. Vua Sê-đê-kia bị Vua Nê-bu-cát-nết-sa ra lệnh móc mắt, giải về Ba-by-lôn, nhốt trong tù cho đến chết. Hầu hết dân chúng còn lại, trừ những người nghèo, đều bị lưu đày đến Ba-by-lôn (II Các Vua 25).

Mặc dù Thiên Chúa bắt đầu thi hành án phạt 70 năm bị lưu đày trên dân I-sơ-ra-ên từ năm 606 TCN, nhưng Ngài đã tiến hành từng bước một để cho họ có cơ hội ăn năn. Tuy nhiên, dân I-sơ-ra-ên vẫn cứng lòng, chẳng những họ không ăn năn mà phạm tội càng hơn, và bách hại cả tiên tri của Chúa. Vì thế, kể từ năm 587 TCN, dân I-sơ-ra-ên hoàn toàn bị mất tư cách độc lập của một quốc gia. Dù sau này Thiên Chúa giữ đúng lời hứa, chấm dứt hình phạt 70 năm bị lưu đày, đưa họ quay về đất Ca-na-an để xây dựng lại Giê-ru-sa-lem và đền thờ Thiên Chúa, nhưng dân I-sơ-ra-ên vẫn luôn sống dưới sự đô hộ của dân ngoại.

Đế Quốc Mê-đi và Phê-rơ-sơ (539 TCN – 333 TCN)

Ngày 10 tháng 10 năm 539 TCN, vào đời Vua Bên-xát-sa của đế quốc Ba-by-lôn, Thiên Chúa đã dùng Đa-ri-út, người nước Mê-đi, chú của Vua Si-ru thuộc đế quốc Mê-đi và Phe-rơ-sơ, đánh chiếm Ba-by-lôn. Trong đêm đó, Đa-ri-út giết chết Vua Bên-xát-xa rồi lên ngôi vua của Ba-by-lôn [2]. Sau khi Vua Đa-ri-út qua đời vào năm 536 TCN, Vua Si-ru lên làm vua Ba-by-lôn [3]. Trong năm đầu tiên làm vua tại Ba-by-lôn, Vua Si-ru đã ra chiếu chỉ phóng thích dân I-sơ-ra-ên bị phu tù tại Ba-by-lôn, để họ được trở về xây dựng lại đền thờ của Thiên Chúa tại Giê-ru-sa-lem. Sự kiện này chấm dứt giai đoạn 70 năm dân I-sơ-ra-ên bị lưu đày tại Ba-by-lôn, từ năm 606 TCN đến năm 536 TCN, y theo lời phán trước của Thiên Chúa (Đa-ni-ên 1:1; E-xơ-ra 1:1).

Điều lạ lùng là, hơn 100 năm trước khi Vua Si-ru được sinh ra (Vua Si-ru được sinh ra vào khoảng năm 600 TCN hoặc năm 575 TCN), thì Thiên Chúa đã sai Tiên Tri Ê-sai ghi lại trong Ê-sai 44:24-28 các lời sau đây về Vua Si-ru và sự tái lập Giê-ru-sa-lem:

24 Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Đấng Cứu Chuộc của ngươi, Đấng đã dựng nên ngươi từ trong tử cung, phán như sau: Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, đã làm nên mọi vật; một mình giương các tầng trời và trải đất ra;

25 làm trật các điềm của những kẻ nói dối; khiến những thầy bói trở nên ngu muội; làm cho những người khôn ngoan tháo lui, biến sự khôn ngoan của họ ra khờ dại;

26 làm ứng nghiệm lời của tôi tớ Ngài, làm thành sự rao báo của các sứ giả Ngài; phán về thành Giê-ru-sa-lem rằng: Nó sẽ có người ở; và về các thành của Giu-đa rằng: Các ngươi sẽ được lập lại và Ta sẽ dựng lại các nơi hoang vu;

27 phán với vực sâu rằng: Hãy khô đi! Ta sẽ làm cạn các sông của ngươi;

28 phán về Si-ru rằng: Nó là người chăn chiên của Ta, nó sẽ làm nên mọi sự Ta đẹp lòng; lại cũng phán về Giê-ru-sa-lem rằng: Ngươi sẽ được lập lại; và phán về đền thờ rằng: Nền của ngươi sẽ được lập.

Vua Si-ru còn được gọi là người được xức dầu của Thiên Chúa, tức là người được Thiên Chúa chọn, ban cho năng lực và thẩm quyền để làm thành thánh ý của Thiên Chúa. Ê-sai 45:1-3 chép:

1 Đấng Tự Hữu Hằng Hữu phán với người được xức dầu của Ngài là Si-ru, người mà Ta cầm lấy tay phải của người, để bắt phục các nước trước người, và Ta sẽ tháo dây lưng của các vua, mở các cửa thành trước người, và các cổng sẽ không bị đóng lại, như sau:

2 Ta sẽ đi trước ngươi và làm cho bằng các đường gập ghềnh. Ta sẽ phá vỡ các cửa bằng đồng, bẻ gãy các thanh gài bằng sắt.

3 Ta sẽ ban cho ngươi những vật báu chứa trong nơi tối, những của cải chứa trong những nơi bí mật, để ngươi biết rằng, Ta, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Đấng gọi ngươi bằng tên của ngươi, là Thiên Chúa của I-sơ-ra-ên.

Chính Vua Si-ru đã ra chiếu chỉ, được chép lại trong E-xơ-ra 1:1-4, như sau:

1 Vào năm thứ nhất của triều đại Si-ru, vua nước Phe-rơ-sơ, để làm cho lời của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu qua miệng của Giê-rê-mi được ứng nghiệm, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã khuấy động tâm thần của Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, khiến ông rao truyền trong khắp vương quốc mình, và cũng ra sắc chỉ rằng:

2 Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, truyền như sau: Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Thiên Chúa ở trên trời, đã ban cho ta các vương quốc của đất, và Ngài truyền cho ta xây cất cho Ngài một đền thờ tại Giê-ru-sa-lem, trong xứ Giu-đa.

3 Trong tất cả các ngươi, bất cứ ai thuộc về dân sự của Ngài, Thiên Chúa của người ấy ở cùng người ấy, và người ấy hãy trở lên Giê-ru-sa-lem trong xứ Giu-đa, để xây cất đền thờ của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, Thiên Chúa của I-sơ-ra-ên, là Đức Chúa Trời, Đấng ngự tại Giê-ru-sa-lem.

4 Bất cứ ai còn sót lại trong bất cứ nơi nào mà người ấy kiều ngụ, thì dân chúng của nơi người ấy ở, phải tiếp trợ người ấy bạc, vàng, của cải, súc vật, cùng với những của lễ tình nguyện cho đền của Đức Chúa Trời ở tại Giê-ru-sa-lem.

Vào năm 333 TCN, đế quốc Mê-đi và Phe-rơ-sơ bị mất vào tay A-lịch-sơn Đại Đế của đế quốc Hy-lạp.

Đế Quốc Hy-lạp (333 TCN – 146 TCN)

Đế quốc Hy-lạp được hình thành vào khoảng năm 2500 TCN nhưng thời gian có liên quan đến pho tượng trong giấc mơ của Vua Nê-bu-cát-nết-sa là từ năm 333 TCN, khi đế quốc này, dưới sự thống trị của A-lịch-sơn Đại Đế, thôn tính đế quốc Mê-đi và Phe-rơ-sơ. Kể từ đó, đế quốc Hy-lạp trở thành đế quốc có biên giới lớn nhất trong các đế quốc, bao gồm các phần đất của cả ba châu: Châu Âu, Châu Á, và Châu Phi. Người ta cho rằng, nếu A-lịch-sơn Đại Đế không chết sớm, thì đế quốc Hy-lạp sẽ bao trùm trọn vẹn cả Châu Âu, Châu Á, và Châu Phi. Sự cực thịnh và bành trướng rộng của đế quốc Hy-lạp khiến cho văn hóa và tiếng nói của Hy-lạp được lan truyền khắp nơi, dọn đường cho sự rao giảng Tin Lành mấy trăm năm sau đó được nhiều thuận tiện. Đế quốc Hy-lạp bị đế quốc La-mã thôn tính vào năm 146 TCN.

Đế Quốc La-mã (146 TCN – 70)

Đế quốc La-mã được sáng lập từ năm 753 TCN nhưng thời gian có liên quan đến pho tượng trong giấc mơ của Vua Nê-bu-cát-nết-sa là từ khi đế quốc này thôn tính đế quốc Hy-lạp vào năm 146 TCN cho đến năm 70, khi đền thờ Thiên Chúa và thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt. Đế quốc La-mã với quân lực hùng mạnh, giữ gìn an ninh khắp lãnh thổ, và khuynh hướng xây dựng các công trình giao thông, đã khiến cho sự rao giảng Tin Lành được phát triển mạnh mẽ trong suốt ba thế kỷ đầu của Hội Thánh. Ngay cả sự bách hại con dân Chúa bởi các hoàng đế La-mã cũng tích cực góp phần vào việc thúc đẩy con dân Chúa tản lạc khắp nơi, rao truyền Tin Lành. Năm 330, Đế quốc La-mã chia làm hai thành Đông La-mã và Tây La-mã. Năm 476 Tây La-mã bị diệt bởi dân Đức. Năm 1453 Đông La-mã bị diệt bởi dân Thổ-nhĩ-kỳ. Dù đế quốc La-mã bị diệt nhưng dân chúng vẫn pha trộn với các giống dân khác và tồn tại cho đến ngày nay trong các quốc gia thuộc Châu Âu.

Ngày nay, phần lớn các quốc gia trước đây thuộc đế quốc La-mã liên kết thành Khối Liên Hiệp Châu Âu (European Union). Phần lớn các nhà giải kinh cho rằng, đế quốc La-mã sẽ hồi sinh trong những ngày cuối cùng, qua sự hình thành một Hợp Chủng Quốc Châu Âu (United States of Europe) với 10 tiểu bang, và AntiChrist, kẻ chống nghịch Đức Chúa Jesus Christ sẽ xuất hiện từ trong Hợp Chủng Quốc Châu Âu. Tuy nhiên, rất có thể Hợp Chủng Quốc Châu Âu chỉ là thế lực để mở đường cho AntiChrist lên cầm quyền cơ chế Liên Hiệp Quốc và biến Liên Hiệp Quốc thành một chính quyền toàn cầu, đã được hai bàn chân của pho tượng trong giấc mơ của Vua Nê-bu-cát-nết-sa tiêu biểu. Chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết trong chương kế tiếp.

Thời Kỳ Hội Thánh (27 – ?)

Thứ Sáu ngày 30 tháng 5 năm 27 theo Lịch Julian, là ngày Đức Thánh Linh giáng lâm và Hội Thánh của Đức Chúa Trời được thành lập. Trước đó 53 ngày, dân I-sơ-ra-ên đã chối bỏ Đức Chúa Jesus Christ, không nhận Ngài là Đấng Cứu Rỗi và Vua của dân I-sơ-ra-ên. Họ đã bắt và giao nộp Ngài cho chính quyền La-mã đóng đinh Ngài trên thập tự giá. Kể từ đó, Đức Chúa Trời đã yên lặng đối với dân I-sơ-ra-ên và sai khiến các tôi tớ của Ngài rao giảng Tin Lành cho các dân tộc khác. Theo lời tiên tri của Phao-lô, được ghi lại trong sách Rô-ma 11:25-26, thì khi số dân ngoại, tức là các dân không thuộc dân tộc I-sơ-ra-ên, được nhập vào đủ số trong Hội Thánh của Đức Chúa Trời, thì cả dân I-sơ-ra-ên sẽ được giải cứu:

Hỡi các anh chị em cùng Cha! Tôi không muốn các anh chị em chẳng biết đến sự mầu nhiệm này, kẻo các anh chị em tự cho mình là khôn ngoan chăng. Ấy là sự cứng lòng đã xảy ra cho một phần của dân I-sơ-ra-ên, cho đến chừng sự đầy trọn của các dân ngoại đến. Rồi thì cả dân I-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: Đấng Giải Cứu sẽ đến từ Si-ôn, cất sự không tin kính ra khỏi Gia-cốp.” (Rô-ma 11:25-26).

Không ai biết được con số dân ngoại sẽ được cứu là bao nhiêu, cũng như khi nào thì dân ngoại nhập vào Hội Thánh được đủ số. Tuy nhiên, khi nhìn vào sự kiện dân I-sơ-ra-ên tái lập quốc vào ngày 14 tháng 5 năm 1948, thì những ai tin Thánh Kinh, biết rõ rằng, ngày cả dân I-sơ-ra-ên được cứu đã gần.

Theo Thánh Kinh, trước khi dân I-sơ-ra-ên được cứu, Hội Thánh của Đức Chúa Trời sẽ được Đức Chúa Jesus Christ đem ra khỏi thế gian, và một hệ thống chính quyền toàn cầu sẽ xuất hiện. Khi đó, thời kỳ Thiên Chúa đoán phạt toàn thế gian sẽ khởi đầu và kéo dài suốt bảy năm. Thời kỳ đó còn được gọi là Kỳ Đại Nạn hoặc Kỳ Tận Thế, đã được chép chi tiết trong sách Khải Huyền.

Nói cách khác, ngày 14 tháng 5 năm 1948, chương trình của Đức Chúa Trời dành cho dân I-sơ-ra-ên đã tái khởi động. Vì số phận của dân I-sơ-ra-ên có liên quan chặt chẽ đến thế lực cầm quyền cuối cùng của loài người trên đất (hai bàn chân của pho tượng trong giấc mơ của Vua Nê-bu-cát-nết-sa), nên sự kiện dân I-sơ-ra-ên tái lập quốc, sau hơn 2,500 năm bị mất chủ quyền, chính là tiếng báo thức của chiếc đồng hồ lịch sử nhân loại. Sự kiện ấy kêu gọi toàn thể nhân loại hãy ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, trước khi Kỳ Tận Thế đến với tất cả những sự kinh hoàng chưa từng có và sẽ không bao giờ có lại trong toàn thể lịch sử của vũ trụ.

Lời Kêu Gọi Bạn Đọc Tin Nhận Sự Cứu Rỗi của Đức Chúa Trời

Nếu bạn chưa hề thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, và đọc được những dòng chữ này trước khi Hội Thánh của Đức Chúa Trời được đem ra khỏi thế gian, chúng tôi kêu gọi bạn hãy ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, để bạn được nhập vào Hội Thánh của Đức Chúa Trời và không bị ở lại trong thế gian, chịu khổ suốt bảy năm đại nạn. Nếu bạn là người đọc được những dòng chữ này sau khi Hội Thánh của Đức Chúa Trời đã được cất ra khỏi thế gian, và hệ thống chính quyền toàn cầu đã được thiết lập, bạn vẫn còn cơ hội ăn năn tội và tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, bạn sẽ phải chịu trải qua sự bách hại bởi chính quyền của AntiChrist, kẻ chống nghịch Đức Chúa Jesus Christ. Bạn phải giữ vững đức tin cho đến chết, thì khi bảy năm đại nạn kết thúc, bạn sẽ được sống lại và cùng cai trị với Đức Chúa Jesus Christ trong Vương Quốc Ngàn Năm của Ngài. Bạn phải từ chối mang con dấu của kẻ cầm đầu chính quyền toàn cầu, từ chối quỳ lạy hình tượng của hắn. Tước vị của hắn có thể là “Tổng Thống Liên Hiệp Quốc,” “Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc,” “Chủ Tịch Liên Hiệp Quốc,” v.v.. nhưng Thánh Kinh gọi hắn là kẻ chống nghịch Đấng Christ (AntiChrist). Bạn cần giữ cuốn sách Kỳ Tận Thế này chung với cuốn Thánh Kinh, và cuốn Chú Giải Sách Khải Huyền, để có thể tham khảo và hiểu được những gì đã được Đức Chúa Trời bày tỏ trong sách Khải Huyền của Thánh Kinh về những ngày cuối cùng của Kỳ Tận Thế.

Hệ Thống Chính Quyền Toàn Cầu (Kéo Dài Trong Bảy Năm)

Sau khi Hội Thánh của Đức Chúa Trời được cất ra khỏi thế gian, tình hình kinh tế, chính trị, và quân sự trên thế giới sẽ biến động một cách bất ngờ, để đưa đến sự kiện các quốc gia chọn giải pháp thiết lập một chính quyền toàn cầu. Tổ chức Liên Hiệp Quốc sẽ trở thành một cơ chế có thẩm quyền tuyệt đối trên các nước, đứng đầu Liên Hiệp Quốc sẽ là một chủ tịch, hoặc một tổng thống, hoặc một tổng thư ký. Cả thế gian sẽ được chia thành 10 khu vực, mỗi khu vực do một đặc sứ hay một thư ký của Liên Hiệp Quốc chịu trách nhiệm. Thánh Kinh gọi kẻ đứng đầu chính quyền toàn cầu là “con thú” và 10 đặc sứ là “10 vua”, tất cả sẽ nhận quyền cai trị trong cùng một giờ:

Mười sừng mà ngươi thấy là mười vua chưa nhận vương quốc nhưng sẽ nhận quyền làm vua cùng một giờ với con thú. Chúng có đồng một ý và sẽ giao quyền và sức mạnh của chúng cho con thú.” (Khải Huyền 17:12-13).

Đó chính là đặc điểm để mọi người nhận ra được kẻ chống nghịch Đấng Christ và 10 vua đồng minh của hắn.

Thời gian từ khi Hội Thánh của Đức Chúa Trời được cất ra khỏi thế gian cho đến khi hệ thống chính quyền toàn cầu được thiết lập có thể là từ vài ngày cho đến một năm. Xác xuất cao nhất là từ một cho đến ba tháng. Nói cách khác, sau khi Hội Thánh của Chúa được cất ra khỏi thế gian thì Kỳ Tận Thế sẽ đến một cách nhanh chóng. Khi đó, tất cả những gì đã được tiên tri gần hai ngàn năm trước, và được ghi lại trong sách Khải Huyền của Thánh Kinh, sẽ lần lượt ứng nghiệm một cách trọn vẹn.

Vương Quốc Ngàn Năm Bình An của Đức Chúa Jesus Christ

Hình ảnh cuối cùng trong giấc mơ của Vua Nê-bu-cát-nết-sa là một hòn đá không do tay người đục ra, lăn đến và đập tan pho tượng, rồi hòn đá đó lớn lên thành một ngọn núi bao trùm khắp đất. Đó chính là hình ảnh của một vương quốc vững chắc, không do loài người lập ra. Vương quốc đó sẽ tiêu diệt toàn bộ hệ thống cầm quyền của loài người, và sẽ thiết lập quyền cai trị của Thiên Chúa trên khắp đất. Đá tiêu biểu cho sức mạnh vững chắc. Mặc dù trong giấc mơ của Vua Nê-bu-cát-nết-sa không nói rõ hòn đá đó thuộc loại đá nào, nhưng có những loại đá quý hiếm và rắn chắc hơn cả kim loại, như kim cương chẳng hạn, khiến cho chúng ta có thể suy luận rằng, Vương Quốc của Đức Chúa Trời vững chắc về cả phương diện quyền lực và kinh tế hơn tất cả các vương quốc do loài người thiết lập hợp lại. Xin đọc chi tiết về Vương Quốc của Đức Chúa Trời trong phần chú giải những chương cuối cùng của sách Khải Huyền trong sách Chú Giải Sách Khải Huyền.

Sự Chân Thật Hiển Nhiên của Đa-ni-ên Chương 2

Khi chúng ta đối chiếu giấc mơ của Vua Nê-bu-cát-nết-sa và lời giải thích của Đa-ni-ên với lịch sử, chúng ta thấy rõ 4/5 các chi tiết đã được ứng nghiệm. Còn lại 1/5 là các chi tiết liên quan đến hệ thống chính quyền toàn cầu và Vương Quốc của Đức Chúa Trời, là phần sẽ ứng nghiệm trong những ngày cuối cùng, trong Kỳ Tận Thế. Điều đó đáng và đủ để chúng ta tin rằng, Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời, và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời dành cho loài người như đã được bày tỏ trong Thánh Kinh là thật.

Trong chương kế tiếp, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu ý nghĩa lời tiên tri về các thế lực cầm quyền trong thế gian trong những ngày cuối cùng, qua giấc mơ của chính Tiên Tri Đa-ni-ên.

Ghi Chú

[1] http://kad.biblecommenter.com/daniel/1.htm

[2] Đa-ni-ên 5:30-31“Ngay đêm đó, vua người Canh-đê là Bên-xát-sa bị giết. Rồi Đa-ri-út là người Mê-đi được nước, bấy giờ tuổi người độ sáu mươi hai.”

http://www.jewishencyclopedia.com/articles/4828-cyrus#anchor4

[3] http://kad.biblecommenter.com/daniel/9.htm

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống pdf bài viết này:
https://www.opendrive.com/folders?MV84OTQ4MjcwX1F1aXU1

1. Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống âm thanh mp3 bài giảng này:
https://od.lk/d/MV8xMTUyMDQ3NzJf/11503_GiacMoCuaMotDaiDe.mp3

2. Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống âm thanh mp3 bài giảng này:
https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/sets/115_kytanthe

Bấm vào nút “play” ► để nghe:

Bấm vào nút “play” ► để nghe:

Share This:

003 Tóm Lược Lịch Sử Loài Người

4,556 views

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla (Mỹ Linh)

Trong chương này, chúng tôi tổng hợp các dữ kiện trong Thánh Kinh, đối chiếu với các chi tiết của thế giới sử để lập thành bảng tóm lược biên niên sử loài người từ khi sáng thế cho đến khi dân I-sơ-ra-ên được hình thành, và biên niên sử của dân I-sơ-ra-ên từ khi được hình thành cho đến hiện tại. Dân I-sơ-ra-ên đã được Thiên Chúa chọn để hoàn thành chương trình và ý muốn của Ngài dành cho nhân loại. Dân I-sơ-ra-ên, vì thế, đã trở nên “chiếc đồng hồ lịch sử của nhân loại”, nghĩa là, nhìn vào dân I-sơ-ra-ên sẽ biết được khi nào thì Kỳ Tận Thế sẽ đến.

Từ khi dân I-sơ-ra-ên, với tính cách tập thể, chối bỏ Đức Chúa Jesus Christ là Cứu Chúa của nhân loại, tức là chối bỏ sự cứu rỗi của Thiên Chúa, bằng cách nộp Ngài cho người La-mã đóng đinh Ngài trên thập tự giá vào năm 27, thì Thiên Chúa tạm ngưng chương trình của Ngài đối với dân I-sơ-ra-ên và tiến hành sự cứu rỗi trong các dân tộc khác. Sứ Đồ Phao-lô đã tiên tri từ hơn 1,900 năm trước: “Hỡi các anh em, tôi không muốn các anh em chẳng biết đến sự mầu nhiệm này, kẻo các anh em tự cho mình là khôn ngoan chăng. Ấy là sự cứng lòng đã xảy ra cho một phần của dân I-sơ-ra-ên, cho đến chừng sự đầy trọn của các dân ngoại đến. Rồi thì cả dân I-sơ-ra-ên sẽ được cứu, như có chép rằng: Đấng Giải cứu sẽ đến từ Si-ôn, cất sự không tin kính ra khỏi Gia-cốp. Vì ấy là sự giao ước mà Ta sẽ lập với họ, khi Ta sẽ cất đi những tội lỗi của họ.” (Rô-ma 11:25-27).

Khi số người trong các dân tộc khác, còn gọi là dân ngoại (ngoại tộc I-sơ-ra-ên), chịu tin nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa được đủ số, thì cả dân I-sơ-ra-ên sẽ tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa. Chúng ta không biết con số dân ngoại tiếp nhận sự cứu rỗi của Thiên Chúa lên đến bao nhiêu thì gọi là “đủ số”, vì đó là một huyền nhiệm của Thiên Chúa. Nhưng chúng ta biết thời điểm sự đầy trọn của các dân ngoại đã gần. Bởi vì, ngày 14 tháng 5 năm 1948, Thiên Chúa đã tiếp tục trở lại chương trình của Ngài đối với dân I-sơ-ra-ên. Trong một ngày, Thiên Chúa đã dựng lại quốc gia I-sơ-ra-ên trong một bối cảnh lịch sử tưởng chừng như đó là việc không thể xảy ra: Ai đã từng nghe một sự như thế này? Ai đã từng thấy một sự giống như vậy? Lãnh thổ có thể nào được hình thành trong một ngày? Dân tộc có thể nào được sinh ra trong một lúc? Mà Si-ôn mới vừa trong cơn chuyển dạ thì đã sinh ra con của mình!” (Ê-sai 66:8). (Si-ôn là tên ngọn núi nơi thủ đô Giê-ru-sa-lem được xây dựng và được tiêu biểu cho đất nước I-sơ-ra-ên.) Đó là lời tiên tri về sự tái lập quốc I-sơ-ra-ên được chính Thiên Chúa tiên tri từ hơn 2,700 năm trước, (Ê-sai được Thiên Chúa sai làm tiên tri cho dân I-sơ-ra-ên vào khoảng năm 767 TCN). Chiếc đồng hồ báo giờ kết thúc lịch sử tự trị đầy tội lỗi của toàn thể nhân loại đã bắt đầu chạy lại, sau hơn 1,900 năm tạm thời đứng yên! Những chi tiết lịch sử trong chương này sẽ giúp bạn thấy được sự chính xác tuyệt vời của các lời tiên tri trong Thánh Kinh.

Có bốn loại lịch được dùng trong biên niên sử dưới đây: Thứ nhất là Lịch Julian (Julian Calendar), thứ nhì là Lịch Do-thái (Hebrew Calendar), thứ ba là Lịch Thánh Kinh, và thứ tư là Lịch Gregorian, là lịch thông dụng ngày nay trên thế giới.

  • Lịch Julian: Được cải thiện từ một loại lịch của người La-mã và được Hoàng Đế Julius của La-mã đưa vào sử dụng từ năm 46 TCN. Châu Âu dùng lịch này cho đến khi Lịch Gregorian được dùng và thông dụng khắp nơi như ngày nay. Trong biên niên sử này, các dữ kiện lịch sử trước năm 1582, là năm Lịch Gregorian được đưa vào sử dụng, thì được đánh dấu bằng Lịch Julian.

  • Lịch Do-thái: Được thiết lập vào khoảng năm 359 TCN. Lịch Do-thái bắt đầu với ngày 1 tháng Tishri (tháng 7) năm 1, nhằm Thứ Hai, ngày 7 tháng 10 năm 3761 TCN của Lịch Julian.

  • Lịch Thánh Kinh: Là một hệ thống lịch do chúng tôi đề nghị. Lịch Thánh Kinh tương tự như Lịch Hê-bơ-rơ, chỉ khác hai điều, là năm thứ nhất của Lịch Thánh Kinh được bắt đầu từ khi dân I-sơ-ra-ên được Thiên Chúa ban hành lịch, như được ghi chép trong sách Xuất Ê-díp-tô Ký chương 12 của Thánh Kinh, và bắt đầu bằng tháng Nissan (tháng 1). Ngày 1 tháng 1 năm 1 của Lịch Thánh Kinh tương đương với Thứ Năm, ngày 12 tháng 3 năm 1446 TCN của Lịch Julian, và tương đương với Thứ Năm, ngày 1 tháng Nissan năm 2315 của Lịch Hê-bơ-rơ. Mục đích của Lịch Thánh Kinh là giúp cho chúng ta nhận thức ngay, từ khi Thiên Chúa ban hành lịch cho loài người, qua dân I-sơ-ra-ên, đến nay là bao nhiêu năm. Những năm trước năm 1 của Lịch Thánh Kinh sẽ được gọi là những năm “trước lịch,” viết tắt là “TL.” Thí dụ, năm 1 TL, năm 2 TL, năm 3 TL, v.v.. Muốn biết năm hiện tại là năm thứ bao nhiêu theo Lịch Thánh Kinh thì cộng 1446 cho năm hiện tại. Thí dụ: Năm 2016 tương đương với năm 3462 của Lịch Thánh Kinh.

  • Lịch Gregorian: Còn được gọi là Dương Lịch hoặc Tây Lịch, do Giáo Hoàng Gregory XIII của Công Giáo La-mã ra sắc lệnh ngày 24 tháng 2 năm 1582, đưa vào sử dụng. Ngày nay, Lịch Gregorian đã trở thành một thứ lịch quốc tế, được tất cả các quốc gia trên thế giới sử dụng. Trong biên niên sử này, các dữ kiện lịch sử kể từ năm 1582 trở về sau, được đánh dấu bằng Lịch Gregorian.

Trong sách này, thuật ngữ “Trước Công Nguyên” viết tắt là “TCN” được dùng để chỉ những năm trước năm 1 làm chuẩn của Lịch Julian hoặc Lịch Gregorian. Những năm sau năm 1 TCN thường được dùng thuật ngữ “Công Nguyên” để chỉ định. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ không dùng thuật ngữ “Công Nguyên”, viết tắt là “CN”, theo sau những năm từ năm 1 trở đi, để đơn giản hóa câu văn.

Giáo Hội Công Giáo cho rằng, năm 1 làm chuẩn của Lịch Gregorian (tương đương năm 1 Lịch Julian) là năm sinh của Chúa nên gọi những năm từ năm 1 trở đi là “Trong Năm của Chúa,” trong tiếng La-tin là “Anno Domini,” viết tắt là AD. Những năm trước đó, được giới Cơ-đốc Giáo gọi là “Before Christ” trong tiếng Anh, viết tắt là BC, và khởi đếm từ 1 BC. Giữa năm 1 AD và năm 1 BC không có năm 0. Vì thế, từ năm 2 BC đến năm 2 AD là khoảng thời gian dài 3 năm. Tuy nhiên, năm 1 không phải là năm Chúa giáng sinh, mà Chúa giáng sinh khoảng bảy năm trước đó, vào năm 7 BC. Vì sự tính sai đó mà cách dùng AD và BC trở thành vô nghĩa. Thay vào đó, cách dùng “Công Nguyên” (“Common Era” viết tắt là CE) và “Trước Công Nguyên” (“Before Common Era” viết tắt là BCE) hợp lý hơn. Công (common) là chung, Nguyên (era) là bắt đầu một thời đại. Công Nguyên là thời đại mà nhân loại bắt đầu dùng chung một thứ lịch.

Chúng tôi dùng nhu liệu hoán chuyển lịch từ website http://www.abdicate.net/cal.aspx, là một nhu liệu đáng tin cậy, để thiết lập bảng tóm lược dưới đây. Tất cả các số liệu về thời gian từ khi sáng thế đến khi Vua Sa-lô-môn xây dựng đền thờ của Thiên Chúa chỉ có tính cách phỏng đoán, dựa trên những chi tiết lịch sử được ghi chép trong Thánh Kinh đối chiếu với các sử liệu ngoài Thánh Kinh. Về các sử liệu ngoài Thánh Kinh, chúng tôi chỉ chọn lấy những sử liệu đúng sát nhất với Thánh Kinh.

Thí dụ 1: Về việc dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập, có tài liệu ghi là vào khoảng năm 1250 đến 1200 TCN, có tài liệu ghi là vào năm 1446 TCN. Chúng tôi chọn tài liệu ghi năm 1446 TCN, vì năm ấy phù hợp với các sử liệu trong Thánh Kinh.

Thí dụ 2; Về việc Vua Nê-bu-cát-nết-xa hủy phá thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ Thứ Nhất, có tài liệu ghi là vào năm 423 TCN, có tài liệu ghi là vào năm 587 TCN. Chúng tôi chọn tài liệu ghi năm 587 TCN, vì năm ấy phù hợp với các sử liệu trong Thánh Kinh.

Năm Julian: 4114 TCN
Năm Thánh Kinh: 2668 TL

Thiên Chúa sáng tạo các tầng trời và đất cùng muôn vật trong các tầng trời và đất: “Vào lúc ban đầu, Thiên Chúa sáng tạo các tầng trời và đất.” (Sáng Thế Ký 1:1).

Công trình sáng tạo kéo dài trong sáu ngày, ngày thứ bảy được Thiên Chúa ban phước và làm thành ngày yên nghỉ, tạo thành chu kỳ một tuần lễ bảy ngày: “Thiên Chúa thấy mọi việc Ngài đã làm thật rất tốt lành. Vậy, có buổi tối và buổi sáng; ấy là ngày thứ sáu.” (Sáng Thế Ký 1:31). “Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành các công việc của Ngài mà Ngài đã làm. Và trong ngày thứ bảy Ngài nghỉ mọi công việc của Ngài mà Ngài đã làm. Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, thánh hóa nó; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ mọi việc của Ngài, những việc mà Thiên Chúa đã sáng tạo và đã làm.” (Sáng Thế Ký 2:2-3).

Thiên Chúa dựng nên loài người và ban cho loài người một thân thể bằng vật chất: “Và Thiên Chúa Tự Hữu Hằng Hữu tạo hình loài người từ bụi của đất, thổi linh sự sống vào lỗ mũi, thì loài người trở nên một linh hồn sống.” (Sáng Thế Ký 2:7).

Năm Julian: 3984 TCN
Năm Thánh Kinh: 2538 TL

A-đam sinh ra Sết: “Khi A-đam được một trăm ba mươi tuổi, sinh một con trai như hình mình, giống như mình, đặt tên là Sết.” (Sáng Thế Ký 5:3).

Năm Julian: 3879 TCN
Năm Thánh Kinh: 2433 TL

Sết sinh ra Ê-nót: “Sết được một trăm lẻ năm tuổi, sinh Ê-nót.” (Sáng Thế Ký 5:6).

Năm Julian: 3789 TCN
Năm Thánh Kinh: 2343 TL

Ê-nót sinh ra Kê-nan: “Ê-nót được chín mươi tuổi, sinh Kê-nan.” (Sáng Thế Ký 5:9).

Năm Do-thái: 1
Năm Julian: 3761 TCN
Năm Thánh Kinh: 2315 TL

Lịch Do-thái bắt đầu với ngày 1 tháng Tishri (tháng 7) năm 1, nhằm Thứ Hai ngày 7 tháng 10 năm 3761 TCN của Lịch Julian.

Năm Do-thái: 42
Năm Julian: 3719 TCN
Năm Thánh Kinh: 2273 TL

Kê-nan sinh ra Ma-ha-la-le: “Kê-nan được bảy mươi tuổi, sinh Ma-ha-la-le.” (Sáng Thế Ký 5:12).

Năm Do-thái: 107
Năm Julian: 3654 TCN
Năm Thánh Kinh: 2208 TL

Ma-ha-la-le sinh ra Giê-rệt: “Ma-ha-la-le được sáu mươi lăm tuổi, sinh Giê-rệt.” (Sáng Thế Ký 5:15).

Năm Do-thái: 269
Năm Julian: 3492 TCN
Năm Thánh Kinh: 2046 TL

Giê-rệt sinh ra Hê-nóc: “Giê-rệt được một trăm sáu mươi hai tuổi, sinh Hê-nóc.” (Sáng Thế Ký 5:18).

Năm Do-thái: 334
Năm Julian: 3427 TCN
Năm Thánh Kinh: 1981 TL

Hê-nóc sinh ra Mê-tu-sê-la: “Hê-nóc được sáu mươi lăm tuổi, sinh Mê-tu-sê-la.” (Sáng Thế Ký 5:21).

Năm Do-thái: 521
Năm Julian: 3240 TCN
Năm Thánh Kinh: 1794 TL

Mê-tu-sê-la sinh ra Lê-méc: “Mê-tu-sê-la được một trăm tám mươi bảy tuổi, sinh Lê-méc.” (Sáng Thế Ký 5:25).

Năm Do-thái: 577
Năm Julian: 3184 TCN
Năm Thánh Kinh: 1738 TL

A-đam qua đời: “Vậy, trọn những ngày mà A-đam sống là chín trăm ba mươi năm, rồi ông qua đời.” (Sáng Thế Ký 5:5).

Năm Do-thái: 634
Năm Julian: 3127 TCN
Năm Thánh Kinh: 1681 TL

Hê-nóc được Thiên Chúa cất ra khỏi thế gian: “Vậy, trọn những ngày của Hê-nóc là ba trăm sáu mươi lăm năm. Hê-nóc cùng đi với Đức Chúa Trời, rồi mất biệt, bởi vì Thiên Chúa mang ông đi.” (Sáng Thế Ký 5:23-24).

Bởi đức tin, Hê-nóc được cất lên và không hề thấy sự chết; người ta không thấy ông nữa, vì Đức Chúa Trời đã tiếp ông lên. Bởi vì trước khi được tiếp lên, ông đã được chứng rằng, ông đã ở vừa lòng Đức Chúa Trời.” (Hê-bơ-rơ 11:5).

Hê-nóc tiêu biểu cho sự kiện: Hội Thánh của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ, bao gồm những người trung tín đồng đi với Chúa, tức là hết lòng sống theo Lời Chúa, là Thánh Kinh, cũng sẽ được Đức Chúa Trời đem ra khỏi thế gian trước bảy năm đại nạn của Kỳ Tận Thế. Khải Huyền 3:10 khẳng định: “Vì ngươi đã giữ lời của sự nhẫn nại Ta, Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách là giờ sẽ đến trên mọi người trong thế gian, để thử nghiệm những kẻ ở trên đất.”

Năm Do-thái: 703
Năm Julian: 3058 TCN
Năm Thánh Kinh: 1612 TL

Lê-méc sinh ra Nô-ê: “Lê-méc được một trăm tám mươi hai tuổi, sinh một trai, đặt tên là Nô-ê, và nói rằng: Đứa này sẽ an ủi lòng ta về công việc và về sự nhọc nhằn, mà đất bắt tay ta phải làm, là đất Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã rủa sả.” (Sáng Thế Ký 5:28-29).

Năm Do-thái: 1205
Năm Julian: 2556 TCN
Năm Thánh Kinh: 1110 TL

Nô-ê sinh ra Sem. Sáng Thế Ký 5:32 chép: “Còn Nô-ê, khi đến năm trăm tuổi, sinh Sem, Cham, và Gia-phết;” là nói một cách tổng quát rằng, khi Nô-ê được 500 tuổi thì ông bắt đầu sinh con, rồi liệt kê tên ba người con của ông. Điều đó không có nghĩa là khi Nô-ê được 500 tuổi thì cùng một lúc sinh được ba người con. Sáng Thế Ký 11:10 cho biết, hai năm sau cơn nước lụt, Sem mới được 100 tuổi, trong khi đó, cơn nước lụt xảy ra lúc Nô-ê được 600 tuổi (Sáng Thế Ký 7:6). Vậy, Sem phải được sinh ra khi Nô-ê được 502 tuổi [1]. Theo Sáng Thế Ký 9:24 thì Cham là con thứ nhì. Theo Sáng Thế Ký 10:21 thì Gia-phết là con cả. Như vậy: khi Nô-ê 500 tuổi thì sinh Gia-phết, 501 tuổi thì sinh Cham, và 502 tuổi thì sinh Sem. Sem được liệt kê đầu tiên trong danh sách vì Sem là tổ phụ của Vua Đa-vít và của Đức Chúa Jesus.

Năm Do-thái: 1303
Năm Julian: 2458 TCN
Năm Thánh Kinh: 1012 TL

Mê-tu-sê-la qua đời: “Vậy, trọn những ngày của Mê-tu-sê-la là chín trăm sáu mươi chín năm, rồi ông qua đời.” (Sáng Thế Ký 5:27).

Nô-ê được 600 tuổi. Vào ngày 17 tháng 2, Cơn Lụt Lớn xảy ra hủy diệt mọi sinh vật trên đất, trừ gia đình Nô-ê tám người và các loài sinh vật đã vào trong một chiếc tàu lớn, do Thiên Chúa sai ông đóng thành: “Vào năm sáu trăm của đời Nô-ê, tháng Hai, ngày mười bảy, trong cùng ngày đó, các nguồn của vực lớn nổ ra, và các cửa sổ trên trời mở xuống. Mưa trên mặt đất bốn mươi ngày và bốn mươi đêm. Trong cùng ngày đó, Nô-ê và Sem, Cham, Gia-phết là các con trai của Nô-ê, vợ của Nô-ê, cùng với ba người vợ của các con trai ông đều vào tàu.” (Sáng Thế Ký 7:11-13).

Nô-ê tiêu biểu cho sự kiện: Trong bảy năm đại nạn của Kỳ Tận Thế, là lúc Hội Thánh của Chúa đã được cất ra khỏi thế gian, sẽ có nhiều người tin Chúa được cứu khỏi các tai nạn. Sau cơn đại nạn, họ sẽ trở thành những công dân của Vương Quốc Ngàn Năm Bình An trên đất, cai trị bởi Đức Chúa Jesus Christ và Hội Thánh của Ngài. Từ nơi họ, loài người sẽ tiếp tục được sinh ra trong suốt một ngàn năm, để làm đầy dẫy đất và chuẩn bị công dân cho Vương Quốc Đời Đời.

Năm Do-thái: 1304
Năm Julian: 2457 TCN
Năm Thánh Kinh: 1011 TL

Ngày 1 tháng 1 năm thứ 601 của đời Nô-ê, nước lụt lui đi: “Vào năm sáu trăm lẽ một của đời Nô-ê, ngày một, tháng Một, nước đã rút khỏi đất. Nô-ê mở mui tàu mà nhìn; này, mặt đất đã khô.” (Sáng Thế Ký 8:13).

Đến ngày 27 tháng 2 thì mặt đất hoàn toàn khô hẳn. Thiên Chúa phán truyền cho gia đình Nô-ê và các loài sinh vật ra khỏi tàu: “Đến tháng Hai, ngày hai mươi bảy, đất đã khô hẳn. Thiên Chúa phán với Nô-ê rằng: Hãy ra khỏi tàu, ngươi, vợ ngươi, các con trai ngươi, và các vợ của các con trai ngươi. Hãy thả ra với ngươi mọi vật sống của mọi xác thịt đã ở cùng ngươi: nào chim, nào súc vật, nào côn trùng bò trên đất, để cho chúng tràn ra khắp đất, sinh sản và thêm nhiều trên đất. Vậy, Nô-ê cùng các con trai, vợ, và các vợ của các con trai ông ra khỏi tàu. Mọi vật sống, mọi côn trùng, mọi chim, cùng bất cứ loài gì bò trên đất tùy theo loại đều ra khỏi tàu.” (Sáng Thế Ký 8:14-19).

Năm Do-thái: 1305
Năm Julian: 2456 TCN
Năm Thánh Kinh: 1010 TL

Sem sinh ra A-bác-sát: “Đây là dòng dõi của Sem: Cách hai năm, sau cơn nước lụt, Sem được một trăm tuổi, sinh A-bác-sát.” (Sáng Thế Ký 11:10).

Năm Do-thái: 1340
Năm Julian: 2421 TCN
Năm Thánh Kinh: 975 TL

A-bác-sát sinh ra Sê-lách: “A-bác-sát được ba mươi lăm tuổi, sinh Sê-lách.” (Sáng Thế Ký 11:12).

Năm Do-thái: 1370
Năm Julian: 2391 TCN
Năm Thánh Kinh: 945 TL

Sê-lách sinh ra Hê-be: “Sê-lách được ba mươi tuổi, sinh Hê-be.” (Sáng Thế Ký 11:14).

Năm Do-thái: 1404
Năm Julian: 2357 TCN
Năm Thánh Kinh: 911 TL

Hê-be sinh ra Bê-léc: “Hê-be được ba mươi bốn tuổi, sinh Bê-léc.” (Sáng Thế Ký 11:16).

Bê-léc có nghĩa là “chia.” Sáng Thế Ký 10:25 cho biết, trong đời Bê-léc đất được chia ra. Sự chia đất này có thể là sự đất tách rời thành các đại lục như chúng ta biết ngày hôm nay. Cũng có thể là sự phân tán các dân tộc và định biên giới cho họ:

Sáng Thế Ký 10:32, “Ấy là các gia đình của ba con trai Nô-ê tùy theo các dòng dõi và các dân tộc của họ. Do nơi họ mà các dân tộc được chia ra trên đất sau cơn nước lụt.”

Sáng Thế Ký 11:8-9, “Rồi, từ đó, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất, và họ ngưng công việc xây cất thành. Thế nên, thành được gọi là Ba-bên, vì tại nơi đó, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu làm lộn xộn tiếng nói của cả đất. Cũng từ đó, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu làm cho loài người tản ra khắp trên mặt đất.”

Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:8, “Khi Đấng Chí Cao phân phát sản nghiệp cho muôn dân, phân rẽ những con cháu của A-đam, thì Ngài định bờ cõi của các dân, cứ theo số con cháu của dân I-sơ-ra-ên.”

Công Vụ Các Sứ Đồ 17:26-27, “Ngài đã làm ra các dân tộc của loài người từ một dòng máu, để ở khắp trên mặt đất, và xác định thời gian đã định sẵn cho họ cùng biên giới chỗ ở của họ; để cho họ tìm kiếm Chúa, nếu họ có thể cảm nhận và tìm kiếm Ngài, dù Ngài chẳng ở xa mỗi một người trong chúng ta.”

Năm Do-thái: 1434
Năm Julian: 2327 TCN
Năm Thánh Kinh: 881 TL

Bê-léc sinh ra Rê-hu: “Bê-léc được ba mươi tuổi, sinh Rê-hu.” (Sáng Thế Ký 11:18).

Năm Do-thái: 1466
Năm Julian: 2295 TCN
Năm Thánh Kinh: 849 TL

Rê-hu sinh ra Sê-rúc: “Rê-hu được ba mươi hai tuổi, sinh Sê-rúc.” (Sáng Thế Ký 11:20).

Năm Do-thái: 1496
Năm Julian: 2265 TCN
Năm Thánh Kinh: 819 TL

Sê-rúc sinh ra Na-cô: “Sê-rúc được ba mươi tuổi, sinh Na-cô.” (Sáng Thế Ký 11:22).

Năm Do-thái: 1525
Năm Julian: 2236 TCN
Năm Thánh Kinh: 790 TL

Na-cô sinh ra Tha-rê: “Na-cô được hai mươi chín tuổi, sinh Tha-rê.” (Sáng Thế Ký 11:24).

Năm Do-thái: 1595
Năm Julian: 2166 TCN
Năm Thánh Kinh: 720 TL

Tha-rê sinh ra Áp-ram: “Còn Tha-rê được bảy mươi tuổi, sinh Áp-ram, Na-cô, và Ha-ran.” (Sáng Thế Ký 11:26).

Năm Do-thái: 1605
Năm Julian: 2156 TCN
Năm Thánh Kinh: 710 TL

Sa-rai, vợ của Áp-ram được sinh ra. Theo chi tiết trong Sáng Thế Ký 17:17, thì lúc Áp-ram được 100 tuổi, Sa-ra được 90 tuổi.

Năm Do-thái: 1653
Năm Julian: 2108 TCN
Năm Thánh Kinh: 662 TL

Nô-ê qua đời lúc Áp-ram được 58 tuổi: “Sau cơn lụt, Nô-ê còn sống ba trăm năm mươi năm. Vậy, trọn những ngày của Nô-ê là chín trăm năm mươi năm, rồi ông qua đời.” (Sáng Thế Ký 9:28-29).

Năm Do-thái: 1670
Năm Julian: 2091 TCN
Năm Thánh Kinh: 645 TL

Áp-ram lúc 75 tuổi, cùng với cháu mình là Lót, rời Cha-ran, theo tiếng gọi của Thiên Chúa: “Đấng Tự Hữu Hằng Hữu phán với Áp-ram: Hãy ra khỏi quê hương của ngươi, khỏi thân tộc của ngươi, và khỏi nhà cha ngươi, để đến một xứ mà Ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn. Ta sẽ ban phước cho ngươi, làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một sự phước hạnh. Ta sẽ ban phước cho những ai chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi. Mọi chi tộc của đất sẽ được hưởng phước trong ngươi. Vậy, Áp-ram ra đi, theo như lời Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã phán dạy. Lót cùng đi với ông. Khi Áp-ram ra khỏi Cha-ran, ông được bảy mươi lăm tuổi. Áp-ram đem Sa-rai, vợ ông, Lót, con trai của em trai ông, cả gia tài họ đã thu gom, và những người họ đã có được tại Cha-ran; rồi họ ra đi, để đến xứ Ca-na-an. Họ đều vào trong xứ Ca-na-an.” (Sáng Thế Ký 12:1-5)

Năm Do-thái: 1680
Năm Julian: 2081 TCN
Năm Thánh Kinh: 635 TL

Áp-ram lấy A-ga, nữ nô lệ người Ai-cập của Sa-rai, làm vợ thứ: “Sau khi Áp-ram đã ở mười năm tại xứ Ca-na-an, Sa-rai, vợ của ông, đem A-ga, là tớ gái người Ê-díp-tô của mình, đưa cho chồng mình là Áp-ram, để làm vợ của ông. Ông vào cùng A-ga thì nàng có thai. Khi nàng thấy mình có thai thì nhìn khinh bỉ bà chủ mình.” (Sáng Thế Ký 16:3-4).

Năm Do-thái: 1681
Năm Julian: 2080 TCN
Năm Thánh Kinh: 634 TL

Ích-ma-ên, con trai của Áp-ram và A-ga được sinh ra “Khi A-ga sinh Ích-ma-ên cho Áp-ram, thì Áp-ram đã được tám mươi sáu tuổi.” (Sáng Thế Ký 16:16).

Năm Do-thái: 1694
Năm Julian: 2067 TCN
Năm Thánh Kinh: 621 TL

Áp-ram được Thiên Chúa đổi tên thành Áp-ra-ham, lúc ông được 99 tuổi: “Khi Áp-ram được chín mươi chín tuổi, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu hiện đến với Áp-ram và phán với ông: Ta là Thiên Chúa Toàn Năng! Ngươi hãy đi ở trước mặt Ta và ngươi hãy trở nên trọn vẹn… Tên của ngươi cũng sẽ chẳng được gọi là Áp-ram nữa, nhưng tên của ngươi sẽ là Áp-ra-ham. Vì Ta đã đặt ngươi làm cha của nhiều dân tộc.” (Sáng Thế Ký 17:1, 5). Áp-ra-ham có nghĩa là “cha của nhiều dân tộc”.

Vợ của Áp-ra-ham được đổi tên từ Sa-rai thành Sa-ra: “Thiên Chúa phán với Áp-ra-ham: Còn Sa-rai, vợ ngươi, ngươi chớ gọi tên nàng là Sa-rai nữa, nhưng Sa-ra là tên của nàng.” (Sáng Thế Ký 17:15). Sa-ra có nghĩa là “công chúa” hoặc “người nữ cao quý”.

Cùng lúc ấy, Thiên Chúa hứa với Áp-ra-ham, qua năm sau, Sa-ra sẽ sinh một con trai, đặt tên là I-sác, và Ngài sẽ lập giao ước đời đời cùng dòng dõi của I-sác, (sau này là dân I-sơ-ra-ên): “Thiên Chúa phán: Thật vậy! Sa-ra vợ ngươi, sẽ sinh cho ngươi một con trai, rồi ngươi đặt tên cho nó là I-sác. Ta sẽ lập giao ước của Ta với nó, một giao ước đời đời với dòng dõi của nó theo sau nó.” (Sáng Thế Ký 17:19).

Thiên Chúa hứa với Áp-ra-ham, Ích-ma-ên sẽ trở nên tổ phụ của 12 chi tộc, (sau này là dân Ả-rập): “Còn về Ích-ma-ên, Ta đã nghe ngươi. Này, Ta ban phước cho nó và sẽ làm cho nó sinh sản, thêm lên thật nhiều. Nó sẽ sinh ra mười hai lãnh tụ, và Ta làm cho nó thành một dân lớn.” (Sáng Thế Ký 17:20).

Thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ bị Thiên Chúa hủy diệt vì tội lỗi của cư dân: “Rồi, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu giáng mưa lưu huỳnh và lửa từ nơi Đấng Tự Hữu Hằng Hữu ở trên trời, xuống trên Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Ngài hủy diệt các thành ấy, cả đồng bằng, và hết thảy dân sự của các thành cùng chồi non mọc ra từ đất.” (Sáng Thế Ký 19:24-25).

Năm Do-thái: 1700
Năm Julian: 2061 TCN
Năm Thánh Kinh: 615 TL

I-sác thôi bú, A-ga và Ích-ma-ên bị đuổi ra khỏi gia đình Áp-ra-ham: “Sáng sớm, Áp-ra-ham trỗi dậy, lấy bánh và một bầu nước, đưa cho A-ga, để trên vai nàng, cùng đứa trẻ, rồi đuổi nàng đi. Nàng ra đi, lang thang trong đồng vắng Bê-e-sê-ba.” (Sáng Thế Ký 21:14).

Năm Do-thái: 1732
Năm Julian: 2029 TCN
Năm Thánh Kinh: 583 TL

Sa-ra qua đời: “Sa-ra được một trăm hai mươi bảy tuổi. Ấy là các năm của đời Sa-ra.” (Sáng Thế Ký 23:1).

Năm Do-thái: 1735
Năm Julian: 2026 TCN
Năm Thánh Kinh: 580 TL

I-sác kết hôn cùng Rê-bê-ca: “I-sác được bốn mươi tuổi khi ông lấy Rê-bê-ca, con gái của Bê-tu-ên, người A-ra-mai, xứ Pha-đan-a-ram, và em gái của La-ban, người A-ra-mai, làm vợ.” (Sáng Thế Ký 25:20).

Năm Do-thái: 1755
Năm Julian: 2006 TCN
Năm Thánh Kinh: 560 TL

Rê-bê-ca sinh ra Ê-sau và Gia-cốp cho I-sác: “Đến ngày sinh nở của nàng, này trong bụng của nàng có thai đôi. Đứa ra trước đỏ hồng, lông cùng mình như một áo khoác lông. Họ đặt tên cho nó là Ê-sau. Kế đó, em trai nó ra, tay nắm lấy gót chân của Ê-sau; và tên nó được gọi là Gia-cốp. I-sác được sáu mươi tuổi khi nàng sinh chúng.” (Sáng Thế Ký 25:24-26).

Năm Do-thái: 1795
Năm Julian: 1966 TCN
Năm Thánh Kinh: 520 TL

Ê-sau kết hôn với Giu-đít: “Ê-sau được bốn mươi tuổi khi ông lấy vợ, là Giu-đít, con gái của Bê -e-ri, người Hê-tít, và Bách-mát, con gái của Ê-lôn, cũng người Hê-tít.” (Sáng Thế Ký 26:34).

Năm Do-thái: 1875
Năm Julian: 1886 TCN
Năm Thánh Kinh: 440 TL

I-sác qua đời: “Những ngày của I-sác là một trăm tám mươi năm.” (Sáng Thế Ký 35:28).

Năm Do-thái: 1885
Năm Julian: 1876 TCN
Năm Thánh Kinh: 430 TL

Gia-cốp di cư đến Ai-cập: “Giô-sép đem Gia-cốp, cha mình, đến trước Pha-ra-ôn. Gia-cốp chúc phước cho Pha-ra-ôn. Pha-ra-ôn hỏi Gia-cốp: Ngươi được bao nhiêu tuổi? Gia-cốp đáp lời Pha-ra-ôn: Các năm tha hương của tôi là một trăm ba mươi năm. Các năm của đời tôi thì ít và nhọc nhằn, chẳng bằng số ngày trong những năm của các tổ phụ tôi trong những ngày tha hương của họ.” (Sáng Thế Ký 47:7-9).

Năm Do-thái: 1902
Năm Julian: 1859 TCN
Năm Thánh Kinh: 413 TL

Gia-cốp qua đời: “Gia-cốp sống trong xứ Ê-díp-tô được mười bảy năm. Những ngày của Gia-cốp, những năm của đời ông là một trăm bốn mươi bảy năm.” (Sáng Thế Ký 47:28).

Năm Do-thái: 2315
Năm Julian: 1446 TCN
Năm Thánh Kinh: 1

Dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập: “Thời kiều ngụ của dân I-sơ-ra-ên, ở tại xứ Ê-díp-tô, là bốn trăm ba mươi năm. Cuối của bốn trăm ba mươi năm, cũng trong ngày đó, tất cả quân đội của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu ra khỏi đất của Ê-díp-tô.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:40-41).

Thời kiều ngụ của dân I-sơ-ra-ên bắt đầu vào năm sáng thế 2238, khi Gia-cốp và các con trai mình di cư đến Ai-cập.

Dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập vào Thứ Năm, ngày 15 tháng Nissan năm 2315 Lịch Do-thái, nhằm Thứ Năm, ngày 26 tháng 3 năm 1446 TCN Lịch Julian: “Họ rời khỏi Ram-se vào tháng Một. Ngày mười lăm tháng Một, là ngày sau Lễ Vượt Qua, con dân I-sơ-ra-ên ra đi với tay đưa cao trước mắt của tất cả dân Ê-díp-tô.” (Dân Số Ký 33:3).

Dựa vào I Các Vua 6:1 và dữ kiện lịch sử về việc Vua Sa-lô-môn lên ngôi năm 970 TCN mà chúng ta tính ra được năm dân I-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai-cập nhằm năm 1446 TCN theo Lịch Julian: “Vào năm bốn trăm tám mươi, sau khi con dân I-sơ-ra-ên ra khỏi đất Ê-díp-tô, là năm thứ tư của Sa-lô-môn cai trị trên I-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, tức là tháng Hai, thì ông xây cất đền của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.”

Vua Sa-lô-môn lên ngôi năm 970 TCN tương đương với năm thứ 2791 Lịch Do-thái. Vậy, lấy năm thứ tư của đời vua Sa-lô-môn, tức là năm 2795 Lịch Do-thái, trừ đi 480 năm, chúng ta sẽ có năm 2315 Lịch Do-thái, tương đương với năm 1446 Lịch Julian.

Như vậy, theo Thánh Kinh chúng ta có thể thiết lập được: Từ khi A-đam được dựng nên cho đến khi Dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập là 2668 năm. Chúng ta đi từ dữ kiện lịch sử năm lên ngôi của Vua Sa-lô-môn là năm 970 TCN Lịch Julian và I Các Vua 6:1 để tính ra năm 1446 Lịch Julian tương đương với năm 2668 Lịch Sáng Thế. Theo lịch sử, năm 1 của Lịch Do-thái tương đương với năm 3761 TCN của Lịch Julian, nên chúng ta biết dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập vào năm 2315 theo Lịch Do-thái.

Chúng ta thấy: Ngày dân I-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập là đúng 430 năm kể từ khi Gia-cốp, tổ phụ của dân I-sơ-ra-ên di cư đến Ai-cập, mà cũng đúng 480 năm nếu tính đến đời thứ tư của Vua Sa-lô-môn. Như vậy, dữ kiện lịch sử đã chứng minh lẽ thật của Thánh Kinh như đã ghi rõ trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12:40-41 và I Các Vua 6:1.

Có một điểm trùng hợp quan trọng: Ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên do chính Thiên Chúa thiết lập vào Thứ Tư, ngày 14 tháng Nissan năm 2315 Lịch Do-thái, nhằm Thứ Tư, ngày 25 tháng 3 năm 1446 TCN Lịch Julian. Đức Chúa Jesus Christ, Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất đi mọi tội lỗi của thế gian, chết trên thập tự giá vào ngày Lễ Vượt Qua, Thứ Tư, ngày 14 tháng Nissan năm 3787 Lịch Do-thái, nhằm Thứ Tư, ngày 9 tháng 4 năm 27 Lịch Julian, làm ứng nghiệm ý nghĩa thuộc linh của Lễ Vượt Qua.

Trong vài bài giảng của chúng tôi, khi nói đến ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên, chúng tôi đã nghĩ rằng, ngày 14 tháng Nissan là ngày Sa-bát. Sự suy nghĩ đó dựa trên Xuất Ê-díp-tô Ký 12:2, “Tháng này sẽ làm đầu cho các tháng đối với ngươi, nó sẽ là tháng thứ nhất trong năm,” để cho rằng, ngày mùng một của tháng Một phải là ngày Thứ Nhất (Chủ Nhật), và như vậy, các ngày 7, 14, 21, và 28 của tháng Một sẽ đương nhiên là các ngày Sa-bát. Tuy nhiên, có lẽ Thiên Chúa đã phán với Môi-se nhằm ngày Thứ Năm trong tuần, và như vậy, ngày đầu tiên của tháng Một mới mà Thiên Chúa thiết lập cho dân I-sơ-ra-ên chính là ngày Thứ Năm, để bảo tồn sự chính xác của ngày Sa-bát từ khi sáng thế, dẫn đến ngày 14 tháng Nissan (tháng Một) của Lễ Vượt Qua đầu tiên là một ngày Thứ Tư. Sự kiện trùng lập của ngày Lễ Vượt Qua đầu tiên và ngày chết của Đức Chúa Jesus Christ cùng là Thứ Tư ngày 14 tháng Nissan là một dấu chứng mạnh mẽ cho giả thuyết lời phán của Thiên Chúa trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12 với Môi-se nhằm ngày Thứ Năm trong tuần lễ. Ngoài ra, trong tuần lễ sáng tạo, ngày Thứ Tư Thiên Chúa mới dựng nên mặt trời, mặt trăng và các tinh tú để làm dấu hiệu tính lịch. Vì vậy, ngày đầu tiên của lịch phải là ngày Thứ Năm của tuần lễ sáng tạo.

Năm Do-thái: 2355
Năm Julian: 1406 TCN
Năm Thánh Kinh: 41

Dân I-sơ-ra-ên tiến vào đất hứa Ca-na-an nhằm ngày 10 tháng Nissan năm 2355 Lịch Do-thái, và toàn thể dân sự chịu lễ cắt bì: “Ngày mười tháng Một, dân sự đi lên khỏi sông Giô-đanh, và đóng trại tại Ghinh-ganh, ở cuối phía đông của Giê-ri-cô.” (Giô-suê 4:19).

Sau đó, dân I-sơ-ra-ên giữ Lễ Vượt Qua lần đầu tiên trong đất Ca-na-an nhằm Thứ Tư, ngày 14 tháng Nissan năm 2355 Lịch Do-thái, tròn 40 năm sau Lễ Vượt Qua lần đầu tiên tại xứ Ai-cập. Qua ngày 15 tháng Nissan thì họ ăn thổ sản của xứ và ma-na không còn ban xuống từ trời cho họ nữa: “Con dân I-sơ-ra-ên đóng trại tại Ghinh-ganh, trong đồng bằng Giê-ri-cô; và giữ Lễ Vượt Qua nhằm ngày mười bốn của tháng, vào lúc chiều tối. Ngày sau Lễ Vượt Qua, họ ăn thổ sản của xứ, bánh không men, và hạt rang trong chính ngày ấy. Ma-na không có nữa vào ngày hôm sau, sau khi họ đã ăn thổ sản trong kho của xứ. Con dân I-sơ-ra-ên cũng không bao giờ có ma-na nữa, nhưng trong năm đó, họ ăn những thổ sản của đất Ca-na-an.” (Giô-suê 5:10-12).

Năm Do-thái: 2711
Năm Julian: 1050 TCN
Năm Thánh Kinh: 397

Vua Sau-lơ lên ngôi, cai trị 40 năm [2].

Năm Do-thái: 2751
Năm Julian: 1010 TCN
Năm Thánh Kinh: 437

Vua Đa-vít lên ngôi, cai trị 40 năm [2].

Năm Do-thái: 2791
Năm Julian: 970 TCN
Năm Thánh Kinh:477

Vua Sa-lô-môn lên ngôi, cai trị 40 năm [2].

Năm Do-thái: 2795
Năm Julian: 966 TCN
Năm Thánh Kinh: 481

Đền thờ của Thiên Chúa, còn gọi là Đền Thờ Thứ Nhất, được Vua Sa-lô-môn khởi công xây cất: “Vào năm bốn trăm tám mươi, sau khi con dân I-sơ-ra-ên ra khỏi đất Ê-díp-tô, là năm thứ tư của Sa-lô-môn cai trị trên I-sơ-ra-ên, nhằm tháng Xíp, tức là tháng Hai, thì ông xây cất đền của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.” (I Các Vua 6:1).

Năm Do-thái: 3039
Năm Julian: 722 TCN
Năm Thánh Kinh: 725

Vương Quốc I-sơ-ra-ên bị hủy diệt bởi Đế Quốc A-si-ri (II Các Vua 17).

Năm Do-thái: 2923
Năm Julian: 606 TCN
Năm Thánh Kinh: 609

Vua Nê-bu-cát-nết-xa của Đế Quốc Ba-by-lôn tiến công Giê-ru-sa-lem và bắt dân Giu-đa đem về Ba-by-lôn làm nô lệ lần thứ nhất, bắt đầu cho hình phạt 70 năm lưu đày của dân Giu-đa.

Năm Do-thái: 3174
Năm Julian: 587 TCN
Năm Thánh Kinh: 860

Vương Quốc Giu-đa bị hủy diệt bởi Đế Quốc Ba-by-lôn (II Các Vua 24 và 25).

Thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ Thứ Nhất bị hủy diệt bởi Vua Nê-bu-cát-nết-xa của Đế Quốc Ba-by-lôn vào ngày 29 tháng 7 năm 587 TCN [3].

Năm Do-thái: 3221
Năm Julian: 536 TCN
Năm Thánh Kinh: 907

Vua Si-ru của Vương Quốc Phe-rơ-sơ (Iran ngày nay) xâm chiếm Ba-by-lôn và ra chiếu chỉ cho phép dân I-sơ-ra-ên được quay về, xây dựng lại tường thành Giê-ru-sa-lem và đền thờ, kết thúc 70 năm dân Giu-đa bị lưu đày tại Ba-by-lôn (606 TCN – 536 TCN): “Năm thứ nhất đời Si-ru, vua Phe-rơ-sơ cai trị, để ứng nghiệm lời của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu qua miệng của Giê-rê-mi, Đấng Tự Hữu Hằng Hữu đã khuấy động tâm thần của Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, khiến ông rao truyền trong khắp vương quốc mình, và cũng ra chiếu chỉ, nói rằng: Si-ru, vua Phe-rơ-sơ, truyền như thế này, Thiên Chúa Tự Hữu Hằng Hữu đã ban cho ta các vương quốc của đất, và chỉ định ta xây cất cho Ngài một cái đền ở tại Giê-ru-sa-lem, trong xứ Giu-đa. Trong các ngươi, bất cứ ai thuộc về dân sự Ngài, nguyện Thiên Chúa Tự Hữu Hằng Hữu của người ấy ở cùng người ấy, và người ấy hãy đi lên (Giê-ru-sa-lem).” (II Sử Ký 36:22-23)!

Có 49,897 người I-sơ-ra-ên quay về Giê-ru-sa-lem xây dựng lại đền thờ [4].

Năm Do-thái: 3246
Năm Julian: 515 TCN
Năm Thánh Kinh: 932

Đền thờ Thiên Chúa được hoàn tất, còn gọi là Đền Thờ Thứ Nhì: “Ngày ba tháng A-đa, nhằm năm thứ sáu đời vua Đa-ri-út, cái đền này được xây cất xong.” (E-xơ-ra 6:15).

Năm Do-thái: 3304
Năm Julian: 457 TCN
Năm Thánh Kinh: 990

Ngày 1 tháng Nissan năm 3304 Lịch Do-thái, nhằm ngày 26 tháng 3 năm 457 TCN Lịch Julian, E-xơ-ra từ Ba-by-lôn khởi hành về lại Giê-ru-sa-lem, để thiết lập lại việc thờ phượng Thiên Chúa theo chiếu chỉ của Vua Ạt-ta-xét-xe, đế quốc Phe-rơ-sơ (E-xơ-ra 7:9).

Theo Đa-ni-ên 9:24-26, Đức Chúa Jesus Christ sẽ bị giết vào cuối của tuần thứ 69 trong 70 tuần nămThiên Chúa đã định cho dân I-sơ-ra-ên, kể từ ngày Vua Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ cho E-xơ-ra.

Mỗi một tuần năm có 7 năm: “Có bảy mươi tuần năm định trên dân ngươi và thành thánh ngươi, để đóng lại sự phạm pháp, kết thúc sự phạm tội, làm sự chuộc tội, và đem sự công bình đời đời vào, để kết thúc sự hiện thấy và lời tiên tri, và để xức dầu cho nơi rất thánh. Vậy, hãy biết và hiểu rằng, từ khi ra lệnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng thủ lãnh Mê-sai-a, thì được bảy tuần năm và sáu mươi hai tuần năm; đường phố và hào sẽ được xây lại, dù trong các thời kỳ khó khăn. Sau sáu mươi hai tuần năm, Đấng Mê-si-a sẽ bị trừ đi, và sẽ không có gì hết. Có dân của lãnh tụ sẽ đến sẽ hủy phá thành và nơi thánh; cuối cùng nó sẽ như bị nước lụt ngập, và những sự hoang vu đã định cho đến khi chiến tranh chấm dứt.”

Như vậy, từ khi Vua Ạt-ta-xét-xe ra chiếu chỉ cho E-xơ-ra vào ngày 1 tháng Nissan năm 3304 Lịch Do-thái, cho đến khi Đức Chúa Jesus Christ bị giết vào ngày 14 tháng Nissan năm 3787 Lịch Do-thái, là 69 tuần lễ, tương đương 483 năm. Ứng nghiệm lời tiên tri trong Đa-ni-ên 9:24-26.

Năm Do-thái: 3328
Năm Julian: 433 TCN
Năm Thánh Kinh: 1014

Ma-la-chi, tiên tri cuối cùng của Thời Cựu Ước [5].

Năm Do-thái: 3754
Năm Julian: 7 TCN
Năm Thánh Kinh: 1440

Đức Chúa Jesus giáng sinh tại Bết-lê-hem, xứ Giu-đa. Lu-ca 2:1-11 chép:

1 Trong những ngày ấy, có chiếu chỉ của Sê-sa Au-gút-tơ ban ra, truyền cho lập sổ dân trong khắp thế gian.

2 Việc lập sổ dân này được thực hiện lần đầu, khi Qui-ri-ni-u làm tổng đốc xứ Sy-ri.

3 Mọi người đều đi khai tên vào sổ. Mỗi người đi đến thành của mình.

4 Giô-sép cũng từ thành Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê, đi lên thành Đa-vít, gọi là Bết-lê-hem, xứ Giu-đê, vì ông thuộc về nhà và dòng Đa-vít,

5 để khai vào sổ với Ma-ri, là người đã hứa gả cho ông, đang có thai đã lớn.

6 Trong khi hai người đang ở nơi đó, thì ngày sinh đẻ của Ma-ri đã đến.

7 Nàng sinh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con, đặt nằm trong máng cỏ, vì quán trọ không có chỗ cho họ.

8 Cũng trong miền đó, có mấy người chăn chiên trú ngoài đồng, ban đêm canh giữ bầy chiên của họ.

9 Kìa! Một thiên sứ của Chúa đến trên họ, và sự vinh quang của Chúa chiếu sáng chung quanh họ. Họ rất sợ hãi.

10 Thiên sứ phán với họ: Đừng sợ! Vì này, ta báo cho các ngươi một Tin Lành của một sự vui mừng lớn cho muôn dân.

11 Bởi vì hôm nay tại thành Đa-vít đã sinh cho các ngươi một Đấng Cứu Rỗi, là Christ, là Chúa.

Đức Chúa Jesus Christ có thể được sinh ra vào đêm 15 tháng Tishrei (tháng 7) năm 3755 Lịch Do-thái, nhằm ngày thứ nhất của Lễ Lều Tạm (Lê-vi Ký 23:34). Ý nghĩa của Lễ Lều Tạm là kỷ niệm sự dân I-sơ-ra-ên phải ở trong các lều trại khi được Thiên Chúa giải phóng ra khỏi xứ Ai-cập (Lê-vi Ký 23:42-43). Tuy nhiên, một trong các ý nghĩa thuộc linh của Lễ Lều Tạm thì Lễ Lều Tạm làm hình bóng về sự Thiên Chúa Ngôi Con sẽ nhập thế làm người, mà Thánh Kinh gọi là “đóng trại giữa chúng ta” để giải cứu nhân loại ra khỏi ách nô lệ và hậu quả của tội lỗi: “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, đóng trại giữa chúng ta. Chúng tôi đã ngắm xem sự vinh quang của Ngài, là vinh quang của Con Một đến từ nơi Cha, đầy ơn và lẽ thật.” (Giăng 1:14).

Đức Chúa Jesus phải được sinh ra ít nhất là 3 năm trước khi Vua Hê-rốt qua đời. Khi Vua Hê-rốt được các nhà thông thái báo tin về sự sinh ra của Đức Chúa Jesus, thì Ngài đã được sinh ra cách đó khoảng hai năm. Đó là lý do khiến Vua Hê-rốt ra lệnh giết các bé trai từ hai tuổi sắp xuống. Sau đó khoảng một năm, vào năm 4 TCN, thì Vua Hê-rốt qua đời.

Ngày nay, nếu con dân Chúa muốn kỷ niệm sinh nhật của Chúa thì nên kỷ niệm vào ngày Lễ Lều Tạm, thay vì kỷ niệm vào ngày 25 tháng 12 là ngày kỷ niệm sinh nhật thần mặt trời của ngoại giáo, với đủ các thứ phong tục mê tín dị đoan và truyền thuyết của ngoại giáo. Cũng đừng gọi lễ kỷ niệm sự giáng sinh của Chúa là Christmas. Christmas là “Mass of Christ” tức là sự chết để làm sinh tế chuộc tội của Đấng Christ! Kỷ niệm Christmas là kỷ niệm sự chết của Chúa và thờ phượng Chúa qua lễ nghi của ngoại giáo chứ không bằng lẽ thật. Xin đọc thêm các bài: “Sự Thật về Christmas,” “Thờ Chúa Không Biết,” và “Lẽ Thật Đương Nhiên về Christmas” [7].

Năm Do-thái: 3757
Năm Julian: 4 TCN
Năm Thánh Kinh: 1444

Vua Hê-rốt qua đời trong khoảng thời gian sau ngày 13 tháng 3 năm 4 TCN nhưng trước ngày Lễ Vượt Qua nhằm ngày 14 tháng 4 năm 4 TCN. Sử Gia Josephus ghi rằng, Vua Hê-rốt chết sau ngày nguyệt thực nhưng trước ngày Lễ Vượt Qua [6].

Năm Do-thái: 3770
Năm Julian: 10
Năm Thánh Kinh: 1456

Sê-sa Ti-be-rơ lên ngôi đồng trị với Sê-sa Au-gút-tơ vào năm 10, (Sê-sa Au-gút-tơ qua đời năm 14). Năm thứ 15 của đời Sê-sa Ti-be-rơ được ghi trong Lu-ca 3:1 là năm 25: “Năm thứ mười lăm đời Sê-sa Ti-be-rơ, khi Bôn-xơ Phi-lát làm tổng đốc xứ Giu-đê, Hê-rốt làm vua chư hầu xứ Ga-li-lê, Phi-líp em ruột của ông làm vua chư hầu xứ Y-tu-rê và tỉnh Tra-cô-nít, Ly-sa-ni-a làm vua chư hầu xứ A-by-len…”

Như vậy, Giăng Báp-tít và Đức Chúa Jesus Christ đều bắt đầu chức vụ vào năm 25 và Đức Chúa Jesus Christ chịu chết vào năm 27.

Năm Do-thái: 3774
Năm Julian: 14
Năm Thánh Kinh: 1460

Sê-sa Au-gút-tơ qua đời, Sê-sa Ti-be-rơ toàn quyền cai trị Đế Quốc La-mã.

Năm Do-thái: 3785
Năm Julian: 25
Năm Thánh Kinh: 1471

Giăng Báp-tít bắt đầu chức vụ: “Năm thứ mười lăm đời Sê-sa Ti-be-rơ, khi Bôn-xơ Phi-lát làm tổng đốc xứ Giu-đê, Hê-rốt làm vua chư hầu xứ Ga-li-lê, Phi-líp em ruột của ông làm vua chư hầu xứ Y-tu-rê và tỉnh Tra-cô-nít, Ly-sa-ni-a làm vua chư hầu xứ A-by-len, An-ne và Cai-phe làm thầy tế lễ thượng phẩm, thì có Lời của Thiên Chúa truyền cho Giăng, con của Xa-cha-ri, ở nơi đồng vắng. Ông đi qua tất cả các miền lân cận sông Giô-đanh, giảng dạy phép báp-tem về sự ăn năn để được tha tội…” (Lu-ca 3:1-3).

Đức Chúa Jesus Christ chịu báp-tem và bắt đầu chức vụ: “Khi tất cả dân chúng đã chịu báp-tem, Đức Chúa Jesus cũng chịu báp-tem. Ngài đang cầu nguyện thì trời mở ra, Đức Thánh Linh ngự xuống trên Ngài trong hình dạng một con chim bồ câu, và có một tiếng từ trên trời phán rằng: Con là con yêu dấu của Ta! Trong Con Ta được thỏa lòng!” (Lu-ca 3:21-22).

Đức Chúa Jesus Christ bắt đầu chức vụ vào lúc khoảng 30 tuổi: “Khi Đức Chúa Jesus khởi sự (giảng dạy) thì Ngài vào khoảng ba mươi tuổi, theo phong tục là con của Giô-sép, từ Hê-li.” (Lu-ca 3:23).

Đức Chúa Jesus Christ được sinh ra vào khoảng đầu tháng 10 năm 7 TCN. Có thể là Ngài được sinh ra vào đêm 15 tháng Tishrei (tháng 7) năm 3755 Lịch Do-thái, nhằm ngày thứ nhất của Lễ Lều Tạm (Lê-vi Ký 23:34), nhằm đêm Thứ Tư ngày 7 bước sang Thứ Năm ngày 8 tháng 10 năm 7 TCN. Ngài chịu báp-tem và bắt đầu chức vụ trước Lễ Vượt Qua năm 25 (Thứ Hai, 02/04/25 Lịch Julian) thì như vậy, Ngài chưa đầy 31 tuổi. Cách tính (1) theo Lịch Julian: Lấy năm 7 TCN trừ năm 1 TCN = 6. Lấy năm 25 trừ năm 1 = 24. Lấy 6+24=30. Nên nhớ, không có năm 0 giữa năm 1 TCN và năm 1. Cách tính (2) theo Lịch Do-thái: Lấy năm 3785 trừ cho năm 3754 = 31. Chúa được sinh ra vào khoảng đầu tháng Tishrei (tháng 7) năm 3754 và chịu báp tem trước tháng Nissan (tháng Giêng) năm 3785, cho nên, vào lúc chịu báp-tem để bắt đầu chức vụ, Ngài đã qua 30 tuổi nhưng chưa đến 31 tuổi.

Năm Do-thái: 3787
Năm Julian: 27
Năm Thánh Kinh: 1473

Đức Chúa Jesus Christ bị đóng đinh trên thập tự giá và chết để chuộc tội nhân loại vào khoảng 3 giờ chiều ngày Thứ Tư 14 tháng Nissan năm 3787 Lịch Do-thái, nhằm Thứ Tư ngày 9 tháng 4 năm 27 Lịch Julian. Thân xác Ngài đã nghỉ yên trong lòng đất đúng ba ngày và ba đêm trước khi Ngài sống lại vào khoảng trước khi mặt trời lặn của ngày Thứ Bảy (ngày Sa-bát); làm ứng nghiệm lời tiên tri của chính Ngài: “Vì như Giô-na đã ở trong bụng cá lớn ba ngày và ba đêm, cũngvậy, Con Người sẽ ở trong lòng đất ba ngày và ba đêm.” (Ma-thi-ơ 12:40 đối chiếu Giô-na 2:1).

Ngày nay, nếu chúng ta muốn kỷ niệm sự thương khó của Chúa thì chúng ta phải kỷ niệm vào ngày Lễ Vượt Qua, và nếu chúng ta muốn kỷ niệm sự phục sinh của Chúa thì chúng ta phải kỷ niệm vào buổi chiều, trước khi mặt trời lặn, sau ngày Lễ Vượt Qua ba ngày ba đêm. Ngày “Thứ Sáu Thương Khó” và Lễ Easter hàng năm do các giáo hội đặt ra không phải là ngày Chúa chết và ngày Chúa phục sinh. Chúa không chết vào ngày Thứ Sáu và Lễ Easter là một lễ của dân ngoại giáo mừng ngày phục sinh của nữ tà thần Easter với đủ các thứ phong tục và cách trang trí đầy mê tín dị đoan của ngoại giáo. Easter là tên nữ thần mùa màng và sự sinh sản của dân ngoại giáo. Kỷ niệm “Thứ Sáu Thương Khó” và Easter là thờ phượng Chúa qua lễ nghi của ngoại giáo và không bằng lẽ thật. Xin xem chi tiết về ngày Chúa chết và ngày Chúa phục sinh trong bài “Ngày Chúa Chết và Ngày Chúa Phục Sinh” [8].

Đức Thánh Linh giáng lâm và Hội Thánh của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ được thành lập vào ngày Lễ Ngũ Tuần, Thứ Sáu, ngày 6 tháng Sivan (tháng 3) năm 3787 Lịch Do-thái. Không phải là Chủ Nhật (ngày Thứ Nhất) trong tuần lễ như truyền thống của các giáo hội dạy. Ngũ Tuần là “năm nhật tuần,” mỗi nhật tuần là 10 ngày. Lễ Ngũ Tuần rơi vào ngày thứ 50, sau ngày Sa-bát của Lễ Bánh Không Men. Lê-vi Ký 23:5-16 chép về Lễ Ngũ Tuần như sau:

5 Ngày mười bốn tháng Một, vào buổi chiều tối, là Lễ Vượt Qua của Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

6 Ngày mười lăm cùng tháng là Lễ Bánh Không Men cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu. Các ngươi sẽ ăn bánh không pha men trong bảy ngày.

7 Ngày đầu, các ngươi sẽ có một sự nhóm hiệp thánh; các ngươi chớ làm một công việc lao động nào.

8 Các ngươi sẽ dâng của lễ thiêu lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu trong bảy ngày. Ngày thứ bảy, sẽ có một sự nhóm hiệp thánh; các ngươi chớ làm một công việc lao động nào.

9 Đấng Tự Hữu Hằng Hữu lại phán với Môi-se rằng:

10 Hãy nói với con dân I-sơ-ra-ên và nói với họ: Khi các ngươi đã vào trong xứ mà Ta sẽ ban cho các ngươi, và đã gặt mùa màng rồi, thì các ngươi hãy đem đến cho thầy tế lễ một bó lúa đầu mùa của các ngươi.

11 Người sẽ vẫy bó lúa trước mặt Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, để được nhận cho các ngươi. Ngày sau ngày Sa-bát thầy tế lễ sẽ vẫy nó. [Vẫy là cầm bó lúa trong tay đưa lên đưa xuống.]

12 Trong ngày ấy, khi các ngươi vẫy bó lúa, các ngươi sẽ dâng lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu một chiên con giáp năm, không có tì vết, để làm của lễ thiêu;

13 và một của lễ chay bằng hai phần mười bột lọc trộn với dầu, đốt trên lửa, có mùi thơm cho Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, với một của lễ thức uống bằng một phần tư hin rượu. [Một hin tương đương 6 lít.]

14 Các ngươi chớ ăn hoặc bánh, hoặc hạt lúa rang, hoặc lúa non cho đến chính ngày này, tức là ngày các ngươi đem của lễ dâng lên Thiên Chúa của mình. Ấy là một lệ định luôn luôn cho con cháu các ngươi trong mọi nơi các ngươi ở.

15 Kể từ ngày sau ngày Sa-bát, là ngày các ngươi đem bó lúa làm của lễ vẫy, các ngươi sẽ tính trọn bảy ngày Sa-bát.

16 Các ngươi đếm năm mươi ngày cho đến ngày sau của ngày Sa-bát thứ bảy, và các ngươi sẽ dâng một của lễ chay mới lên Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.

Ngày Lễ Sa-bát được dùng làm ngày dâng các bó lúa đầu mùa được nói đến trong phân đoạn nêu trên, chính là ngày Lễ Sa-bát 15 tháng Nissan, cũng là ngày đầu tiên của Lễ Bánh Không Men, và là ngày Lễ Sa-bát đầu tiên trong các ngày Lễ Sa-bát. Chúng ta có Lễ Vượt Qua của năm 3787 Lịch Do-thái (27 TCN Lịch Julian) nhằm ngày Thứ Tư, 14 tháng Nissan (tháng Một) và ngày Sa-bát đầu tiên của Lễ Bánh Không Men nhằm Thứ Năm ngày 15 tháng Nissan.

  • Tháng Nissan (tháng 1) có 30 ngày

  • Tháng Iyyar (tháng 2) có 29 ngày

  • Tháng Sivan (tháng 3) có 30 ngày

Vậy, 50 ngày sau ngày 15 tháng Nissan phải là Thứ Sáu, ngày 6 tháng Sivan (tháng 3). Lễ Ngũ Tuần luôn luôn rơi vào ngày 6 tháng Sivan theo Lịch Do-thái [9].

Ngày nay, con dân Chúa muốn kỷ niệm Lễ Ngũ Tuần thì phải kỷ niệm vào ngày 6 tháng Sivan theo Lịch Do-thái. Ngày đó có thể rơi vào các thứ tự khác nhau trong tuần lễ chứ không phải luôn luôn là Chủ Nhật như truyền thống của các giáo hội dạy.

Năm Do-thái: 3830
Năm Julian: 70
Năm Thánh Kinh: 1516

Thành Giê-ru-sa-lem và đền thờ Thiên Chúa (còn gọi là Đền Thờ Thứ Nhì) bị hủy diệt bởi quân đội La-mã. Đền thờ bị hủy diệt đến nỗi không còn một hòn đá nào chồng lên một hòn đá nào, ứng nghiệm lời tiên tri của Đức Chúa Jesus Christ: “Khi Đức Chúa Jesus ra khỏi đền thờ, đang đi, thì các môn đồ của Ngài đến, để chỉ cho Ngài xem các nhà thuộc về đền thờ. Ngài phán với họ: Các ngươi có thấy mọi sự đó chăng? Thật vậy! Ta nói với các ngươi, sẽ không còn một khối đá nào chồng trên một khối khác mà không bị đổ xuống.” (Ma-thi-ơ 24:1-2). Lời tiên tri này đã được Đức Chúa Jesus Christ tiên tri 43 năm trước khi đền thờ bị phá hủy.

Năm Do-thái: 5364
Năm Gregorian: 1604
Năm Thánh Kinh: 3050

Ghi chú: Kể từ đây trở đi chúng tôi dùng Lịch Gregorian để ghi lại các sự kiện trong thế giới sử.

Ngày 22/07/1604, Vua King James I của Anh Quốc ra chiếu chỉ phiên dịch toàn bộ Thánh Kinh từ nguyên ngữ Hê-bơ-rơ và Hy-lạp sang Anh ngữ.

Năm Do-thái: 5371
Năm Gregorian: 1611
Năm Thánh Kinh: 3057

Thánh Kinh Anh Ngữ Bản Dịch King James (The Holy Bibile – King James Version) được hoàn thành sau 7 năm phiên dịch bởi 47 học giả.

Năm Do-thái: 5380
Năm Gregorian: 1620
Năm Thánh Kinh: 3066

Những di dân đầu tiên từ Âu Châu đặt chân trên đất Mỹ.

Năm Do-thái: 5536
Năm Gregorian: 1776
Năm Thánh Kinh: 3222

Quốc Gia Hoa Kỳ được chính thức thành lập với 13 cựu thuộc địa của Anh Quốc vào ngày 04/07/1776.

Năm Do-thái: 5674
Năm Gregorian: 1914
Năm Thánh Kinh: 3360

Ngày 28/07/1914, Thế Giới Đại Chiến Lần Thứ Nhất khai diễn và kết thúc vào ngày 11/11/1918.

Thế Giới Đại Chiến Lần Thứ Nhất mở màn cho các cuộc chiến tranh và tiếng đồn về chiến tranh có tầm mức toàn cầu, làm ứng nghiệm lời tiên tri của Đức Chúa Jesus Christ trước đó 1912 năm, khởi đầu cho các dấu hiệu báo điềm Chúa đến và Kỳ Tận Thế: “Các ngươi sẽ nghe nói về chiến tranh và tiếng đồn về chiến tranh. Hãy giữ mình! Các ngươi đừng bối rối, vì những sự ấy phải đến, nhưng sự cuối cùng chưa đến. Vì dân này sẽ nổi lên nghịch lại dân kia, vương quốc này nghịch lại vương quốc kia. Sẽ có những cơn đói kém, những cơn dịch bệnh, và những cơn động đất trong nhiều chỗ. Nhưng mọi điều đó chỉ là khởi đầu những cơn đau của sự thai nghén.” (Ma-thi-ơ 24:6-8).

Năm Do-thái: 5699
Năm Gregorian: 1939
Năm Thánh Kinh: 3385

Ngày 01/09/1939, Thế Giới Đại Chiến Lần Thứ Nhì khai diễn và kết thúc vào ngày 15/08/1945.

Năm Do-thái: 5708
Năm Gregorian: 1948
Năm Thánh Kinh: 3394

Thứ Sáu, ngày 14/05/1948, nhằm Thứ Sáu, ngày 5 tháng Iyyar (tháng 2) năm 5708 Lịch Do-thái. Quốc Gia I-sơ-ra-ên được tái lập, ứng nghiệm lời tiên tri của Thiên Chúa từ hơn 2700 năm trước: “Ai đã từng nghe một sự như thế này? Ai đã từng thấy một sự giống như vậy? Lãnh thổ có thể nào được hình thành trong một ngày? Dân tộc có thể nào được sinh ra trong một lúc? Mà Si-ôn mới vừa trong cơn chuyển dạ thì đã sinh ra con của mình!” (Ê-sai 66:8).

Chính trong ngày đầu tiên vừa tái lập quốc đó, I-sơ-ra-ên đã phải chiến đấu chống lại sự tấn công của liên khối Hồi Giáo, bao gồm: Ai-cập, Giô-đanh, Sy-ri-a, Lê-ba-non, và I-rắc. Cuộc chiến đó được mang tên là “Chiến Tranh Dành Độc Lập,” kéo dài 15 tháng và làm thiệt mạng trên 6,000 người I-sơ-ra-ên [10].

Ngày 14/12/1949, Giê-ru-sa-lem trở thành thủ đô của I-sơ-ra-ên [11].

Năm Do-thái: 5727
Năm Gregorian: 1967
Năm Thánh Kinh: 3413

Cuộc Chiến Sáu Ngày, từ ngày 5 đến ngày 10 tháng 6 năm 1967, nhằm ngày 2 tháng Sivan (tháng 3) năm 5727 Lịch Do-thái, diễn ra giữa I-sơ-ra-ên và liên quân các nước Hồi Giáo. Kết quả, I-sơ-ra-ên chiếm được vùng Dải Gaza (Gaza Strip) và Bán Đảo Sinai từ Ai-cập, vùng Tây Ngạn (West Bank) và Đông Giê-ru-sa-lem từ Giô-đanh, vùng Cao Nguyên Golan (Golan Heights) từ Sy-ri-a. Ngày 07/06/1967, lần đầu tiên I-sơ-ra-ên hoàn toàn làm chủ thành Giê-ru-sa-lem sau hơn 2,000 năm thành bị cai trị bởi dân ngoại [12].

Năm Do-thái: 5807
Năm Gregorian: 2047
Năm Thánh Kinh: 3493

Ngày 2 tháng Sivan (tháng 3) năm 5807 Lịch Do-thái, nhằm ngày 27/05/2037, sẽ tròn 70 năm kể từ ngày I-sơ-ra-ên chiếm lại toàn thành Giê-ru-sa-lem và thiết lập thủ đô tại Giê-ru-sa-lem.

Ma-thi-ơ 24:32-35 ghi lại lời tiên tri của Đức Chúa Jesus Christ về Kỳ Tận Thế: “Hãy học ngụ ngôn về cây vả. Khi nhánh của nó còn non, lá mới đâm, thì các ngươi biết mùa hạ gần tới. Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, hãy biết rằng, sự ấy đã gần, ngay trước cửa. [Sự ấy tức là sự Đức Chúa Jesus Christ tái lâm trên đất. Một số văn bản khác ghi rằng: Ngài đã gần, ngay trước cửa!] Thật vậy! Ta nói với các ngươi, dòng dõi này sẽ chẳng qua đi cho đến khi mọi sự ấy được ứng nghiệm!” Thánh Kinh dùng cây vả làm hình ảnh tiêu biểu cho dân I-sơ-ra-ên. Nếu hiểu rằng, sự kiện nhành non của cây vả ra lá mới tiêu biểu cho sự dân I-sơ-ra-ên tái lập quốc và tái chiếm lại thành Giê-ru-sa-lem, thì thế hệ sinh ra trong năm 1967 sẽ chẳng qua đi trước khi Kỳ Tận Thế đến.

Thi Thiên 90:10 cho biết, đời người là 70 năm hoặc 80 năm: “Những ngày của những năm của chúng tôi là bảy mươi năm. Còn nếu mạnh khỏe thì đến tám mươi năm. Nhưng sự kiêu căng của nó chỉ là lao khổ và buồn thảm. Vì nó chóng qua, rồi chúng tôi bay mất đi.” Vậy, chúng ta có thể suy diễn rằng, Kỳ Tận Thế ắt phải xảy ra vào thời điểm sớm nhất là tháng sáu năm 1967 và trễ nhất cũng không quá tháng 6 năm 2037 (nếu một dòng dõi là 70 năm) hoặc tháng 6 năm 2047 (nếu một dòng dõi là 80 năm).

Tuy nhiên, sự kiện Đức Chúa Jesus Christ sẽ đến giữa chốn không trung để đem Hội Thánh của Ngài, bao gồm những ai thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự cứu rỗi của Ngài, và hết lòng vâng giữ các điều răn của Ngài, thì có thể xảy ra bất kỳ lúc nào, trước Kỳ Tận Thế: “Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết, ngay cả các thiên sứ trên trời cũng không biết, nhưng chỉ Cha Ta. Trong những ngày của Nô-ê thế nào, khi Con Người đến cũng thế ấy. Vì trong những ngày trước cơn lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả cho đến ngày Nô-ê vào trong tàu, và không biết gì hết cho đến khi cơn lụt đến và đem đi hết thảy. Khi Con Người đến cũng như vậy. Lúc ấy, sẽ có hai người ở trong một đồng ruộng, một người được đem đi, còn một người bị bỏ lại; hai người đang xay cối, một người được đem đi, còn một người bị bỏ lại. Vậy, hãy tỉnh thức! Vì các ngươi không biết giờ nào Chúa của các ngươi sẽ đến.” (Ma-thi-ơ 24:36-42).

Vì Chúa sẽ đem Hội Thánh của Ngài ra khỏi thế gian trước bảy năm đại nạn của Kỳ Tận Thế, cho nên:

  • Nếu một dòng dõi tương đương với một đời người là 70 năm, thì kể từ tháng 06/2016 sẽ chỉ còn 21 năm để lời tiên tri về tận thế được hoàn thành. Như vậy, trừ ra 7 năm đại nạn sẽ còn lại 14 năm là khoảng thời gian dài nhất mà Hội Thánh còn ở lại trong thế gian. Tuy nhiên, Chúa có thể đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian bất kỳ lúc nào trong vòng 14 năm sắp tới, kể cả lúc quý bạn đọc đang đọc những dòng chữ này.

  • Nếu một dòng dõi tương đương với một đời người là 80 năm, thì kể từ tháng 06/2016, Chúa có thể đến để đem Hội Thánh ra khỏi thế gian bất kỳ lúc nào trong vòng 24 năm sắp tới.

Những ai không thuộc về Hội Thánh của Chúa sẽ bị bỏ lại trong thế gian và chịu khổ suốt bảy năm đại nạn của Kỳ Tận Thế, như đã được tiên tri và diễn tả trong sách Khải Huyền của Thánh Kinh, mà chúng tôi sẽ trình bày trong các chương kế tiếp.

Xin nhớ rằng: Chúng tôi hoàn toàn không đưa ra ngày giờ Chúa đến hay ngày giờ khởi đầu Kỳ Tận Thế. Chúng tôi chỉ đưa ra các dữ kiện giúp mọi người nhận biết: Ngày Chúa đến đã gần và như vậy, ngày tận thế cũng đã gần.

Ghi Chú

[1] Theo Sáng Thế Ký 9:24 thì Cham là con thứ nhì. Theo Sáng Thế Ký 10:21 thì Gia-phết là con cả. Theo Sáng Thế Ký 11:10 thì sau Cơn Lụt Lớn hai năm, Sem được 100 tuổi. Như vậy: khi Nô-ê 500 tuổi thì sinh Gia-phết, 501 tuổi thì sinh Cham, và 502 tuổi thì sinh Sem. Sem được liệt kê đầu tiên trong danh sách vì Sem là tổ phụ của Vua Đa-vít và Đức Chúa Jesus.

[2] http://www.biblestudy.org/prophecy/israel-kings.html

[3] http://en.wikipedia.org/wiki/Siege_of_Jerusalem_%28587_BC%29

[4] E-xơ-ra 2.

[5] http://www.miketaylor.org.uk/xian/bible/timeline.html

[6] Flavius Josephus. Jewish Antiquities, 17.6.4.

[7] http://timhieuthanhkinh.net/?p=47

[8] http://timhieuthanhkinh.net/?p=38

[9] http://www.jewfaq.org/holidayc.htm

[10] http://www.mfa.gov.il/MFA/History/History+of+I-sơ-ra-ên/HISTORY-%20The%20State%20of%20Israel

[11] http://www.answers.com/topic/jerusalem

[12] http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%BA%BFn_tranh_S%C3%A1u_ng%C3%A0y

Share This:

002 Thánh Kinh và Loài Người

3,754 views

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla (Mỹ Linh)

Thánh Kinh [1] là tài liệu cổ duy nhất trong lịch sử văn chương của thế giới, nói rõ về nguồn gốc của vũ trụ và loài người. Thánh Kinh giãi bày về một Thiên Chúa Tự Hữu Hằng Hữu (tự có và có đến mãi mãi), là Đấng Tạo Hóa đã dựng nên muôn loài vạn vật. Thánh Kinh cũng giãi bày ý muốn của Thiên Chúa dành cho loài người. Thánh Kinh ghi lại lịch sử của loài người và tiên tri những gì sẽ xảy ra cho loài người, bao gồm: sự hình thành và sự thịnh suy của các dân tộc; sự tận thế; sự sống lại và sự sống đời đời của những người tin nhận Thiên Chúa; vương quốc ngàn năm an lạc dưới sự cai trị của Đức Chúa Jesus Christ; sự phán xét chung cuộc mọi kẻ ác; sự dựng nên trời mới đất mới; vương quốc đời đời của Đức Chúa Trời và của những người thuộc về Ngài.

Cuốn sách này hoàn toàn dựa trên Thánh Kinh, đối chiếu với lịch sử và thời sự, để trình bày về “Kỳ Tận Thế” theo như Thánh Kinh đã tiên tri. Trước khi đi vào phần chính, chúng tôi muốn tóm lược một số điểm quan trọng dưới đây, để giúp quý độc giả có cái nhìn tổng quát về Thánh Kinh, về lịch sử của loài người, về ý Trời, mà hiểu rõ mục đích của sự tận thế theo Thánh Kinh. Đọc Tiếp →

Share This:

001 Tận Thế Là Gì?

4,688 views

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla (Mỹ Linh)

Từ xưa đến nay, loài người vẫn bị ám ảnh về sự tận thế. Tuy nhiên, chưa bao giờ trong lịch sử của nhân loại, sự kiện tận thế được nói đến nhiều như trong thời kỳ từ năm 2000 cho đến hiện tại, nhất là với cơn sốt của “hiện tượng 2012” dẫn đến sự hình thành bộ phim giả tưởng “2012”. Khi tra tìm trên Internet, chúng ta sẽ thu nhận được các thành quả như sau:

  • Từ ngữ “tận thế” có trên 10,200,000 tiết mục.

  • Từ ngữ “the end of the world” có trên 3,890,000,000 tiết mục.

Với 10,200,000 tiết mục về tận thế trong tiếng Việt được phổ biến trên Internet, giả sử như một người bỏ ra trung bình một phút để xem qua một tiết mục, thì người ấy phải mất hơn 19 năm, mỗi năm 365 ngày, mỗi ngày 24 tiếng đồng hồ, để đọc hoặc xem không ngừng nghỉ. Còn nếu người ấy muốn xem qua hết các tiết mục trong tiếng Anh thì phải mất hơn 7,400 năm!

Với một khối lượng thông tin về tận thế lớn như vậy, ngay trong tầm tay, nhưng vẫn không có bao nhiêu người thật sự hiểu biết đúng về tận thế! Thật ra, tận thế là gì? Khi nào thì tận thế? Và tận thế sẽ xảy ra như thế nào? Đọc Tiếp →

Share This:

000 Lời Nói Đầu

3,997 views

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla

(Bao gồm phần định nghĩa các thuật ngữ Thánh Kinh được dùng trong sách này)

Bạn đọc quý mến.

Trước hết, chúng tôi xin chào mừng bạn trong danh của Đức Chúa Jesus Christ và cám ơn bạn đã có nhã ý chọn đọc cuốn sách này. Chúng tôi chào mừng bạn trong danh của Đức Chúa Jesus Christ, bởi vì, cuốn sách này được viết ra trong danh của Ngài, để giúp người đọc biết đến Ngài và những sự dạy dỗ của Ngài.

Độc giả của sách này, một phần sẽ là những người đã tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời ban cho nhân loại trong Đức Chúa Jesus Christ, phần còn lại sẽ là những người chưa tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, nhưng muốn tìm hiểu về sự cứu rỗi và các giáo lý của Thánh Kinh. Nếu bạn đã tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì chúng tôi nguyện xin Đức Thánh Linh, Thần Lẽ Thật, sẽ dẫn bạn vào trong mọi lẽ thật của Lời Chúa được giãi bày trong sách này; và xin Ngài ban cho bạn năng lực, để bạn cẩn thận và hết lòng sống theo Lời Chúa. Nếu bạn chưa tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ thì chúng tôi nguyện xin Đức Thánh Linh, Thần Lẽ Thật, sẽ dẫn bạn đến với sự cứu rỗi trong khi hoặc sau khi bạn đọc xong sách này. Dù bạn thuộc thành phần nào, chắc chắn Thiên Chúa sẽ ban phước cho bạn khi bạn đọc sách này. Bạn có thể tìm đọc thêm hoặc nghe các tài liệu về sự cứu rỗi và các giáo lý của Thánh Kinh trên hai khu mạng: Đọc Tiếp →

Share This: