2,969 views

029 Chú Giải Sách Khải Huyền 3:7-13

Huỳnh Christian Timothy
Huỳnh Christian Priscilla (Mỹ Linh)

Phi-la-đen-phi: Hội Thánh Trung Tín

7 “Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi: ‘Đây là những lời phán của Đấng Thánh; Đấng Chân Thật; Đấng giữ chìa khóa của Đa-vít: Đấng mở thì không ai có thể đóng, Đấng đóng thì không ai có thể mở:

8 Ta biết những việc làm ngươi. Kìa, Ta đã đặt trước ngươi một cửa đã mở mà không ai có thể đóng; vì ngươi có ít sức mà vẫn giữ Lời Ta và không chối danh Ta.

9 Này, Ta sẽ khiến chúng nó – những kẻ thuộc hội Sa-tan, xưng mình là người Do-thái mà không phải, chúng chỉ là những kẻ nói dối – đến phủ phục trước chân ngươi và biết rằng Ta yêu ngươi!

10 Vì ngươi đã giữ lời của sự nhẫn nại Ta, Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách là giờ sẽ đến trên mọi người trong thế gian để thử nghiệm những kẻ ở trên đất.

11 Này, Ta đến mau chóng! Hãy giữ vững những điều ngươi có thì không ai có thể lấy mão của ngươi.

12 Người nào thắng, Ta sẽ cho làm trụ trong đền của Đức Chúa Trời Ta và người sẽ không ra khỏi đó nữa. Ta sẽ viết trên người tên của Đức Chúa Trời Ta, tên của thành Đức Chúa Trời Ta là Giê-ru-sa-lem mới từ nơi Đức Chúa Trời Ta ở trên trời giáng xuống và tên mới của Ta.’

13 Ai có tai, người ấy hãy nghe điều Đấng Thần Linh phán với các Hội Thánh.”


7 “Hãy viết cho thiên sứ của Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi: ‘Đây là những lời phán của Đấng Thánh; Đấng Chân Thật; Đấng giữ chìa khóa của Đa-vít: Đấng mở thì không ai có thể đóng, Đấng đóng thì không ai có thể mở:

Phi-la-đen-phi: Danh từ “phi-la-đen-phi” có nghĩa là “tình yêu anh em.” Trong Thánh Kinh có nói đến sự kiện Đức Chúa Trời định sẵn Đức Chúa Jesus Christ làm con cả ở giữa những người thuộc về Ngài:

“Vì những ai Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, để cho Con này được làm Con cả ở giữa nhiều anh em” (Rô-ma 8:29).

Vì thế, danh từ phi-la-đen-phi rất thích hợp để gọi những ai hết lòng trung tín với Chúa. Chỉ những người hết lòng yêu Chúa mới có thể trung tín với Chúa. Những ai trung tín với Chúa thì sẽ trở nên con cái thật của Đức Chúa Trời và là anh em với Đức Chúa Jesus Christ. Lời của Đức Chúa Jesus Christ phán với các môn đồ của Ngài được ghi lại trong Giăng 20:17 khẳng định rằng, Đức Chúa Trời là: “Cha Ta và Cha các ngươi… Đức Chúa Trời của Ta và Đức Chúa Trời của các ngươi.”

Thành phố Phi-la-đen-phi nằm trên triền của dãy núi Ti-mô-lốt và cách Sạt-đe khoảng 40 km về phía đông nam. Phi-la-đen-phi được Vua A-ta-lút Đệ Nhị (Attalus II) của Bẹt-găm xây dựng vào năm 189 TCN, để bày tỏ lòng trung thành của ông đối với anh của ông là Vua Ê-mi-nét Đệ Nhị (Eumenes II), vua xứ Ly-đi (Lydia). Phi-la-đen-phi nhiều lần bị sụp đổ vì các cơn động đất nhưng luôn được tái thiết, và vẫn còn cho đến ngày nay. Năm 1403, Phi-la-đen-phi bị Đại Hãn Thiết Mộc Nhi [1] chinh phục và tàn sát. Quân đội của Thiết Mộc Nhi đã dùng xác chết của dân quân Phi-la-đen-phi chất thành một tường thành chung quanh thành phố.

Vào thời điểm sách Khải Huyền được viết thì Phi-la-đen-phi là một thành phố đang phát triển về thương mãi. Vùng đất chung quanh Phi-la-đen-phi rất phì nhiêu, nhờ vào dung nham từ núi lửa, và sự bào chế cam thảo là một ngành công nghiệp đáng kể của thành phố, nhờ vào các cánh đồng cam thảo. Đến ngày nay, ngành chế biến cam thảo vẫn còn tại Phi-la-đen-phi.

Ngày nay, Phi-la-đen-phi được gọi là “Thành Phố của Đức Chúa Trời” (Allahshehr), thuộc quốc gia Thổ-nhĩ-kỳ. Tại Phi-la-đen-phi vẫn còn nhiều con dân của Chúa sinh sống. Dù phải chịu sự bách hại hung bạo của chính quyền Hồi Giáo Thổ-nhĩ-kỳ, Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi vẫn trung tín với người anh cả Đức Chúa Jesus Christ của mình.

Đấng Thánh: Một danh hiệu của cả Ba Ngôi Thiên Chúa. Trong Cựu Ước, danh xưng Đấng Tự Hữu Hằng Hữu thường đi kèm với danh xứng Đấng Thánh. Điển hình là Ê-sai 42:15: “Chúa Tự Hữu Hằng Hữu, là Đấng Thánh của I-sơ-ra-ên.” Riêng trong Khải Huyền 3:7, “Đấng Thánh” là lời tự xưng của Đức Chúa Jesus Christ. Khi tính từ “thánh” được dùng cho Thiên Chúa, thì bao gồm các nghĩa sau đây: Riêng biệt; độc lập; không giống bất cứ ai, không giống bất cứ sự gì; không nương cậy ai, không nương cậy bất cứ sự gì.

Chúa là Đấng Thánh vì Ngài là Đấng tự có và có mãi mãi; ngoài Ngài không ai, không vật gì có thể tự có; không ai, không vật gì có thể sánh được với Ngài. Chúa là Đấng Thánh vì Ngài là Đấng tạo nên muôn loài vạn vật nhưng hoàn toàn khác biệt với muôn loài vạn vật; Ngài hoàn toàn không lệ thuộc vào muôn loài vạn vật. Danh hiệu Đấng Thánh được nhắc đến trong câu mở đầu của lá thư gửi cho Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi, có lẽ để Hội Thánh nhớ rằng, Chúa không lệ thuộc vào sự trung tín của Hội Thánh. Nếu Hội Thánh trung tín với Chúa thì điều đó là tốt cho Hội Thánh, nếu Hội Thánh không trung tín với Chúa thì Ngài vẫn là Thiên Chúa Tự Hữu Hằng Hữu.

Ngày nay, nhiều người nghĩ rằng, chắc là Chúa sẽ mang ơn họ, nếu họ gia nhập Hội Thánh hoặc làm ra điều này, điều kia trong Hội Thánh. Thậm chí, có người nghĩ rằng, Chúa cần sự họ đi nhóm hiệp với Hội Thánh, Chúa cần sự dâng hiến của họ! Nghĩ như vậy là thiếu hiểu biết và phạm thượng, là vô tình đồng hóa Chúa với loài người. Chúa không cần ai trong khi mọi người có bổn phận phải thờ phượng Ngài.

Đấng Chân Thật:Chân thật có nghĩa là có thật và không hề thay đổi bản chất, không hề thay đổi bản tính. Ngược lại với những thần tượng hư không do loài người tưởng tượng ra, Chúa là Đấng có thật và bản chất cùng bản tính của Ngài không hề thay đổi. Bản chất của Ngài là Thần. Bản tính của Ngài là yêu thương. Danh hiệu Đấng Chân Thật giúp cho Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi nhớ rằng, Chúa không thiên vị, Chúa luôn giữ đúng mọi lời hứa của Ngài, và Ngài yêu những ai thuộc về Ngài cho đến cuối cùng (Giăng 13:1). Mệnh đề “cho đến cuối cùng” có nghĩa là: cho đến mãi mãi; như danh hiệu của Chúa: “Đấng Trước Hết và Đấng Sau Cùng” (Khải Huyền 1:11) có nghĩa là Đấng có mãi mãi từ trước và có mãi mãi về sau!

Đấng giữ chìa khóa của Đa-vít: Danh từ chìa khóa được dùng với nghĩa bóng là thẩm quyền và tri thức. Trong Ê-sai 22:22 có lời tiên tri về sự Chúa cất đi quyền cai trị của Sép-na trên Giê-ru-sa-lem và nhà Giu-đa, mà ban quyền ấy cho Ê-li-a-kim, con trai Hinh-kia. Quyền cai trị ấy được gọi là “chìa khóa nhà Đa-vít:”

“Ta sẽ đem chìa khóa nhà Đa-vít để trên vai nó; nó mở, không ai đóng được; nó đóng, không ai mở được.”

Trong Ma-thi-ơ 16:19, chúng ta thấy trước khi Đức Chúa Jesus Christ hoàn thành công cuộc cứu rỗi nhân loại, Ngài hứa trao chìa khóa vương quốc Trời cho Sứ Đồ Phi-e-rơ:

“Ta sẽ giao chìa khóa vương quốc Trời cho ngươi; bất cứ điều gì mà ngươi buộc dưới đất, thì cũng sẽ buộc ở trên trời, và điều gì mà ngươi mở dưới đất, thì cũng sẽ mở ở trên trời.”

“Chìa khóa vương quốc Trời” trong lời phán của Chúa có nghĩa là thẩm quyền rao giảng Tin Lành. Trong Giăng 20:23, sau khi Chúa hoàn thành công cuộc cứu rỗi nhân loại, Ngài đã phán với tất cả các môn đồ:

“Nếu có những ai các ngươi tha tội cho, thì chúng được tha đối với họ. Nếu có những ai các ngươi cầm giữ, thì chúng bị cầm giữ.”

Chúng ta thấy ý nghĩa của lời phán này tương tự như ý nghĩa lời Chúa phán với Phi-e-rơ. Vì thế, chúng ta có thể hiểu rằng, cả hai lời phán đều cùng một ý. Trong Ma-thi-ơ 16:19 Chúa hứa Ngài sẽ giao chìa khóa tức giao quyền cho Phi-e-rơ. Ngài không hề nói, Ngài giao độc quyền cho Phi-e-rơ. Trong Giăng 20:23 thì Ngài chính thức công bố giao quyền cho tất cả cácmônđồ, chứ không phải chỉ riêng cho Phi-e-rơ. Đối chiếu với Ma-thi-ơ 28:19-20, chúng ta thấy rõ: “Chìa khóa của vương quốc Trời” hay thẩm quyền rao giảng Tin Lành được Chúa giao cho tất cả các môn đồ của Ngài.

Giáo lý của Công Giáo dạy rằng, Phi-e-rơ là giáo hoàng đầu tiên của giáo hội, nắm giữ chìa khóa vương quốc Trời; sau đó, chức giáo hoàng Công Giáo và chìa khóa vương quốc Trời được lưu truyền cho các giáo hoàng của giáo hội. Giáo lý đó hoàn toàn không có trong Thánh Kinh mà còn nghịch lại những lẽ thật đã được ghi chép rõ ràng trong Thánh Kinh. Chúng ta cũng thấy Thánh Kinh ghi lại sự kiện Sứ Đồ Phao-lô hành xử thẩm quyền “buộc” đối với một người có tội mà không ăn năn trong Hội Thánh tại Cô-rinh-tô:

“Có tin đồn ra khắp nơi rằng trong anh em có sự dâm loạn, dâm loạn đến thế, dẫu dân ngoại cũng chẳng có giống như vậy: là đến nỗi trong anh em có kẻ lấy vợ của cha mình. Anh em còn lên mình kiêu ngạo! Anh em chẳng từng buồn rầu, để cho kẻ phạm tội đó bị trừ bỏ khỏi vòng anh em thì hơn! Về phần tôi, thân dầu xa cách mà tinh thần ở tại đó, đã phán xét kẻ làm ra việc đó như là tôi đã có mặt. Trong danh của Đức Chúa Jesus Christ là Chúa chúng ta, các anh em nhóm hiệp cùng tinh thần tôi, với năng lực của Đức Chúa Jesus Christ phó người như thế cho Sa tan, để phần xác thịt bị hủy hoại, mà tinh thần có thể được cứu trong ngày Đức Chúa Jesus” (I Cô-rinh-tô 5:1-5).

Tiếp theo đó, Phao-lô đã dạy cho Hội Thánh tại Cô-rinh-tô như sau:

“Trong thư tôi viết cho anh em, có dặn đừng làm bạn với kẻ gian dâm, đó tôi chẳng có ý nói chung về kẻ gian dâm đời này, hay là kẻ tham lam, kẻ chắt bóp, kẻ thờ hình tượng, vì nếu vậy thì anh em phải lìa khỏi thế gian. Nhưng tôi viết khuyên anh em đừng làm bạn với kẻ nào tự xưng là anh em, mà là gian dâm, hoặc tham lam, hoặc thờ hình tượng, hoặc chửi rủa, hoặc say sưa, hoặc chắt bóp, cũng không nên ăn chung với người thể ấy. Bởi vì có phải tôi nên phán xét kẻ ở ngoài sao? Chẳng phải anh em nên phán xét những người ở trong sao? Còn như kẻ ở ngoài, thì Đức Chúa Trời sẽ phán xét họ. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em (I Cô-rinh-tô 5:9-13).

“Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em” là thẩm quyền “buộc” mà Phao-lô yêu cầu Hội Thánh tại Cô-rinh-tô thi hành đối với những ai có tội mà không chịu ăn năn. Hành động của Phao-lô và lời dạy của Phao-lô đã minh chứng rằng, thẩm quyền buộc và mở được Chúa ban cho toàn Hội Thánh, chứ không chỉ ban riêng cho Sứ Đồ Phi-e-rơ hay bất cứ một người nào khác.

Điều đặc biệt trong lời phán của Chúa với Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi là, mặc dù Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi là một Hội Thánh có nhiều dân ngoại hơn là dân Do-thái, và nằm trên lãnh thổ của dân ngoại, nhưng Chúa lại nói đến chìa khóa của Đa-vít, tức là thẩm quyền cai trị quốc gia I-sơ-ra-ên. Điều đó chứng tỏ rằng, những người I-sơ-ra-ên sẽ được vào trong quốc gia I-sơ-ra-ên trong tương lai cũng tùy thuộc vào sự rao giảng Tin Lành của Hội Thánh. Qua sự rao giảng Tin Lành của Hội Thánh sẽ có nhiều người I-sơ-ra-ên tin nhận sự cứu rỗi của Chúa và họ sẽ vừa được vào vương quốc Trời, vừa được vào trong vương quốc I-sơ-ra-ên của Thời Ngàn Năm Bình An. Kể từ khi Đức Chúa Jesus Christ chịu chết trên thập tự giá để hoàn thành công cuộc cứu rỗi nhân loại, sẽ không có một người I-sơ-ra-ên nào được vào vương quốc Trời lẫn vương quốc I-sơ-ra-ên, nếu người ấy không tin nhận Tin Lành.

Chúa đã giao chìa khóa của vương quốc Trời cho Hội Thánh, nhưng Chúa vẫn giữ “chìa khóa của Đa-vít,” tức thẩm quyền ban cho một người được vào trong vương quốc I-sơ-ra-ên, sẽ được cai trị bởi Vua Đa-vít trong Thời Ngàn năm Bình An. Ngài muốn thương xót ai thì thương xót và muốn làm cứng lòng ai thì làm (Rô-ma 9:18). Có lẽ, tùy vào thái độ của mỗi người I-sơ-ra-ên đối với Tin Lành đã rao giảng cho họ, mà Chúa sẽ cho hay không cho họ dự phần làm công dân của quốc gia I-sơ-ra-ên trong tương lai. Đây là điều an ủi con dân Chúa tại Phi-la-đen-phi thời bấy giờ, vì Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi lúc ấy đang bị những người I-sơ-ra-ên theo Do-thái Giáo bắt bớ dữ dội.

Đấng mở thì không ai có thể đóng, Đấng đóng thì không ai có thể mở: Với thẩm quyền của Chúa, Ngài là Đấng đóng và mở, không riêng gì vương quốc I-sơ-ra-ên, mà cả vương quốc Trời. Không ai, không một thế lực nào, dù là của các tôn giáo, của các chính quyền loài người, hay chính thế lực của Sa-tan có thể chống lại được thẩm quyền của Ngài. Ngay cả khi Sa-tan dùng sự chết để hù dọa đức tin của con dân Chúa, như xưa kia nó đã từng giết chết mười đứa con của ông Gióp, đã từng ném ba người bạn của Đa-ni-ên vào lò lửa hừng, và ném chính Đa-ni-ên vào hang sư tử… thì Sa-tan cũng không thể đóng được cánh cửa cứu rỗi, cánh cửa của vương quốc Trời, cánh cửa của sự rao giảng Tin Lành đã được chính Đức Chúa Jesus Christ mở ra. Lời Chúa phán, các cửa của âm phủ, tức sự chết, cũng không thể thắng được Hội Thánh (Ma-thi-ơ 16:18). Mặt khác, một khi Chúa đã đóng thì không ai có thể mở. Chúa đã đích thân đóng cánh cửa của con tàu Nô-ê trong Cơn Nước Lụt. Chúa sẽ đích thân đóng cánh cửa cứu rỗi, cánh cửa của vương quốc Trời, đối với những ai có tội mà không chịu ăn năn.

8 Ta biết những việc làm ngươi. Kìa, Ta đã đặt trước ngươi một cửa đã mở mà không ai có thể đóng; vì ngươi có ít sức mà vẫn giữ Lời Ta và không chối danh Ta.

Ta biết những việc làm ngươi: Một lần nữa, câu phán “Ta biết những việc làm ngươi” được lập lại. Và, chúng ta cần ghi nhớ rằng, Đức Chúa Jesus Christ biết tất cả mọi việc làm của chúng ta. Không những Ngài biết cách thức làm việc của chúng ta, mà Ngài còn biết cả động cơ và mục đích khiến cho chúng ta làm việc.

Động cơ khiến cho chúng ta làm việc là vì chúng ta yêu Chúa, yêu người hay vì chúng ta ganh tỵ, khoe mình? Mục đích khiến cho chúng ta làm việc là để ý muốn của Cha chúng ta ở trên trời được nên, hay vì chúng ta muốn thu danh, đoạt lợi cho bản thân, cho gia đình, cho bè phái, cho giáo hội? Hãy nhớ rằng, Chúa biết hết mọi sự, vì:

“Chẳng có một tạo vật nào giấu kín trước mặt Chúa, nhưng hết thảy đều trần trụi và lộ ra trước mắt Đấng mà chúng ta phải thưa lại” (Hê-bơ-rơ 4:13).

Sự kiện Chúa biết những việc làm của con dân Chúa là điều an ủi vô cùng lớn lao cho những ai đang chịu khổ vì danh Chúa. Chúa biết mà Chúa vẫn cho phép những nghịch cảnh xảy ra cho con dân Chúa, vì trong chương trình của Ngài, những điều đó đem lại ích lợi cho chúng ta:

“Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định” (Rô-ma 8:28).

Dù có thể ngày nay chúng ta không hiểu được những nghịch cảnh có ích lợi cho chúng ta như thế nào; nhưng một ngày kia, trong vương quốc đời đời, chúng ta sẽ hiểu một cách tỏ tường. Ngày nay, chúng ta bởi đức tin mà cảm tạ Chúa trong mọi cảnh ngộ và nương cậy nơi ân điển của Ngài, để đứng vững trong đức tin, vượt qua mọi cám dỗ cùng thử thách.

Ta đã đặt trước ngươi một cửa đã mở mà không ai có thể đóng: Chúa mở cho những ai trung tín trong đức tin cánh cửa vào trong vương quốc Trời, lẫn cánh cửa của cơ hội được phục vụ Ngài. Không ai, không nghịch cảnh nào có thể đóng cánh cửa mà Chúa đã mở ra cho con dân của Ngài. Việc còn lại là con dân Chúa có bằng lòng bước vào hay không. Bởi vì, muốn bước vào cánh cửa cứu rỗi thì phải hạ mình, khiêm nhường, ăn năn tội, và tin nhận sự chết chuộc tội của Chúa. Sau khi vào trong sự cứu rỗi của Chúa thì phải tiếp tục bước đi trên con đường hẹp, tức là vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời và chịu sự bách hại của thế gian. Chính Chúa gọi cánh cửa vào trong sự cứu rỗi là “cửa hẹp” và con đường theo Chúa là “đường chật:”

“Hãy vào cửa hẹp, vì cửa rộng và đường khoảng khoát dẫn đến sự hư mất, kẻ vào đó cũng nhiều. Nhưng cửa hẹp và đường chật dẫn đến sự sống, kẻ kiếm được thì ít” (Ma-thi-ơ 7:13-14).

Chẳng những ít kẻ kiếm được cửa chật và đường hẹp dẫn đến sự sống, nhưng trong số những kẻ kiếm được, muốn vào đó theo cách riêng của mình, cũng không vào được:

“Có người thưa Ngài rằng: Lạy Chúa, có phải chỉ ít kẻ được cứu chăng? Ngài đáp rằng: Hãy gắng sức vào cửa hẹp, vì, Ta nói với các ngươi, nhiều người sẽ tìm cách vào mà không vào được. Khi chủ nhà trỗi dậy, đóng cửa lại rồi, các ngươi ở ngoài gõ cửa kêu rằng: Lạy Chúa, xin mở cho chúng tôi! Chủ sẽ trả lời rằng: Ta không biết các ngươi đến từ đâu. Bấy giờ các ngươi sẽ thưa rằng: Chúng tôi đã ăn uống trước mặt Chúa, và Chúa đã dạy dỗ trong các chợ chúng tôi. Chủ lại sẽ trả lời rằng: Ta nói với các ngươi, không biết các ngươi đến từ đâu; hết thảy những kẻ làm dữ kia, hãy lui ra khỏi ta” (Lu-ca 13:23-27).

Chỉ có một cách để vào cửa hẹp đường chật dẫn đến sự sống. Đó là: hạ mình, khiêm nhường, ăn năn tội, tin nhận sự chết chuộc tội của Chúa, và vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời.

Vì ngươi có ít sức mà vẫn giữ Lời Ta: Khi con dân Chúa hết lòng vâng phục Chúa, sống theo Lời của Ngài, thì Ngài sẽ mở ra cho họ lối đi. Chúng ta hãy xét thí dụ sau đây về một người hết lòng vâng phục Chúa. Khi người ấy hiểu được rằng, con dân Chúa phải vâng giữ ngày Sa-bát của Chúa theo điều răn thứ tư, thì người ấy lập tức vâng theo, mà không ngại những khó khăn sẽ xảy đến khi người ấy từ bỏ việc đi làm kiếm sống vào ngày Sa-bát. Người ấy không có khả năng để lo cho cuộc sống gia đình khi từ chối đi làm kiếm sống vào ngày Sa-bát, cũng không thấy một cơ hội nào khác mở ra cho mình, nhưng vẫn lập tức nghỉ đi làm ngày Sa-bát. Đó là sự kiện mà Chúa gọi là: “có ít sức mà vẫn giữ Lời Ta!” Chắc chắn, Chúa là Đấng Chân Thật sẽ mở ra cho người ấy một cánh cửa, sau khi người ấy vâng giữ Lời Chúa.

Từ ngữ “ít sức” được dùng ở đây có thể hiểu là không đủ sức để tự lo cho mình và gia đình mình các nhu cầu trong thế gian, nếu hết lòng vâng giữ các điều răn của Chúa. Bởi vì, khi một người muốn sống trọn vẹn với Chúa qua sự vâng giữ các điều răn của Ngài, thì người ấy lập tức bị thế gian và “anh em giả dối” bách hại. Từ gần hai ngàn năm trước, Đức Thánh Linh đã phán dạy:

“Hết thảy mọi người muốn sống cách nhân đức trong Đấng Christ Jesus, thì sẽ bị bắt bớ” (I Ti-mô-thê 3:12).

Nhưng nếu ai sẵn lòng trả giá để hoàn toàn sống đẹp lòng Chúa, thì sẽ nhận được lời hứa này:

“Quả thật, Ta nói với các ngươi: Chẳng một người nào vì Ta và Tin Lành từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, mà chẳng nhận được đang bây giờ, trong đời này, trăm lần hơn về những nhà cửa, anh em, chị em, mẹ con, đất ruộng, với sự bắt bớ, và sự sống đời đời trong đời sau” (Mác 10:29-30).

Chúa luôn mở cửa cho con dân trung tín của Ngài và ban thưởng trọng hậu cho họ; nhưng Ngài không cất bỏ sự bách hại. Con dân Chúa phải luôn đối diện với khó khăn, nghịch cảnh, và chịu sự bách hại của thế gian trong cuộc đời này.

Và không chối danh Ta: Người giữ vững Lời Chúa, tức làm theo các điều răn của Chúa cũng là người không chối danh Chúa. Ngược lại, những ai vì quyền lợi, vì sự sống, vì tình cảm mà vi phạm điều răn của Chúa, thì ấy là người chối danh Chúa. Danh của Chúa là “Jesus!” và “Jesus” có nghĩa là “Đấng Tự Hữu Hằng Hữu là Đấng Giải Cứu.” Vậy, tại sao con dân Chúa không hết lòng vâng giữ các điều răn của Chúa và trông chờ sự giải cứu từ nơi Ngài?

Không lẽ Đức Chúa Trời không có năng lực ban cho chúng ta một việc làm kiếm sống mà không phạm vào ngày Sa-bát của Chúa, cho nên, chúng ta cứ bám vào việc làm hiện tại là việc mà chúng ta phải đi làm vào ngày Sa-bát [2]?

Không lẽ Đức Chúa Trời không có năng lực giải cứu chúng ta ra khỏi nghịch cảnh và ngay cả sự chết, nên chúng ta phải dựa vào một lời nói dối?

Không lẽ, đứng trước mọi cám dỗ, chúng ta kêu cầu danh Chúa mà Ngài không giải cứu chúng ta, nhất là những cám dỗ về tà dâm, về các chứng nghiện ngập, nên chúng ta cứ phạm tội?

Vì thế, khi chúng ta vi phạm dù chỉ một điều răn của Chúa là chúng ta đã chối bỏ danh Ngài.

9 Này, Ta sẽ khiến chúng nó – những kẻ thuộc hội Sa-tan, xưng mình là người Do-thái mà không phải, chúng chỉ là những kẻ nói dối – đến phủ phục trước chân ngươi và biết rằng Ta yêu ngươi!

Những kẻ thuộc hội Sa-tan, xưng mình là người Do-thái mà không phải: Sa-tan là kẻ đứng đầu những kẻ chống nghịch Chúa. Hội của Sa-tan là hội của những kẻ chống nghịch Chúa. Chúa gọi những người Do-thái sống tại Phi-la-đen-phi không phải là những người Do-thái thật, vì họ chống nghịch Hội Thánh của Ngài. Họ thật sự mang huyết thống của Áp-ra-ham là tổ phụ của dân Do-thái, nhưng họ không tin Chúa và không vâng phục Chúa như Áp-ra-ham, nên Chúa gọi họ không phải là người Do-thái thật. Chúng ta hãy cùng nhau đọc lại mẫu đối thoại giữa Chúa và những người Do-thái tại Giê-ru-sa-lem, được ghi lại trong Giăng 8:31-45:

31 Bấy giờ, Ngài phán với những người Do-thái đã tin Ngài rằng: Nếu các ngươi hằng ở trong lời Ta, thì thật là môn đồ Ta.

32 Các ngươi sẽ biết lẽ thật và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi.

33 Họ nói với Ngài: Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai, vậy sao Ngài nói rằng: Các ngươi sẽ được tự do?

34 Đức Chúa Jesus đáp lời họ: Thật vậy, thật vậy, Ta nói với các ngươi, hễ ai phạm tội lỗi, thì là tôi mọi của tội lỗi.

35 Vả, tôi mọi không ở lại mãi trong nhà, mà con thì ở lại mãi.

36 Vậy, nếu Con buông tha các ngươi, thì các ngươi sẽ thật được tự do.

37 Ta biết rằng các ngươi là dòng dõi Áp-ra-ham, nhưng các ngươi tìm thế để giết Ta, vì trong lòng các ngươi không có chỗ cho lời Ta.

38 Ta nói điều Ta đã thấy nơi Cha Ta, còn các ngươi làm điều đã thấy nơi cha của các ngươi.

39 Họ trả lời, nói với Ngài: Cha chúng tôi là Áp-ra-ham. Đức Chúa Jesus phán với họ: Nếu các ngươi là các con cháu của Áp-ra-ham, thì đã làm công việc của Áp-ra-ham.

40 Nhưng hiện nay, các ngươi tìm cách giết Ta, là người lấy lẽ thật đã nghe nơi Đức Chúa Trời, mà nói với các ngươi. Áp-ra-ham không hề làm điều đó!

41 Các ngươi đang làm công việc của cha các ngươi. Họ bèn nói với Ngài: Chúng tôi chẳng phải là con ngoại tình; chúng tôi chỉ có một Cha, là Đức Chúa Trời.

42 Đức Chúa Jesus phán với họ: Nếu Đức Chúa Trời là Cha của các ngươi, thì các ngươi sẽ yêu Ta, vì Ta bởi Đức Chúa Trời mà ra và đến. Ta chẳng tự mình đến, nhưng Ngài đã sai Ta.

43 Tại sao các ngươi không hiểu điều Ta phán? Vì các ngươi chẳng có thể nghe được lời Ta.

44 Các ngươi bởi cha mình, là ma quỷ, mà ra; và các ngươi sẵn lòng làm theo sự ưa muốn của cha mình. Từ lúc ban đầu, nó đã là kẻ giết người, chẳng đứng trong lẽ thật, và không có lẽ thật trong nó. Khi nó nói dối, thì nói theo tánh riêng mình. Nó là kẻ nói dối và là cha của sự nói dối.

45 Còn Ta nói lẽ thật, thì các ngươi không tin Ta.

Chúng tôi đã đề cập đến trong phần chú giải Khải Huyền 2:9 về người Do-thái thật. Xin nhắc lại như sau:

Thánh Kinh nói về người Do-thái bề ngoài và người Do-thái bề trong như sau:

“Vì không phải kẻ tỏ ra người Do-thái là người Do-thái, cũng vậy, không phải kẻ tỏ ra sự cắt bì trong xác thịt là người cắt bì; nhưng là kẻ bên trong là người Do-thái, và là sự cắt bì của tấm lòng trong tâm thần, không phải theo chữ viết. Sự khen ngợi của kẻ ấy chẳng bởi loài người nhưng bởi Đức Chúa Trời” (Rô-ma 2:28-29).

Thánh Kinh xác nhận: tất cả những ai có đức tin như đức tin của Áp-ra-ham; nghĩa là đức tin thể hiện ra hành động vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời, thì họ là con cháu thật của Áp-ra-ham, tức là người Do-thái thật, theo định nghĩa của Thánh Kinh:

“Vậy anh em hãy nhận biết rằng những kẻ có đức tin là con cháu thật của Áp-ra-ham” (Ga-la-ti 3:7).

Những người Do-thái chống nghịch Hội Thánh của Chúa tại Phi-la-đen-phi đều thuộc về hội của Sa-tan, như những người Do-thái chống nghịch Hội Thánh của Chúa tại Si-miệc-nơ. Ngày nay, tất cả những ai xưng mình là Cơ-đốc nhân mà chống nghịch những người rao giảng và sống đúng theo Lời Chúa, thì họ cũng là những kẻ thuộc hội của Sa-tan.

Chúng chỉ là những kẻ nói dối: Tất cả những lời tự xưng mình là con dân Chúa của những ai không làm theo Lời Chúa, đều là những lời nói dối:

“Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ các điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người. Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì tình yêu của Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài. Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm” (I Giăng 2:4-6).

Tất cả những kẻ nói dối đều là con của ma quỷ.

Ta sẽ khiến chúng nó… đến phủ phục trước chân ngươi: Trong số những người Do-thái chống nghịch Hội Thánh Chúa tại Phi-la-đen-phi sẽ có một số người tiếp nhận Tin Lành và vâng phục sự giảng dạy của Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi. Từ ngữ “phủ phục” được dùng trong câu phán của Chúa cùng là từ ngữ dùng để chỉ sự thờ phượng Chúa. Tuy nhiên, không có nghĩa là họ thờ phượng Hội Thánh tại Phi-la-đen-phi, mà là, họ sấp mình thờ phượng Chúa trước mặt con dân Chúa tại Hội Thánh Phi-la-đen-phi. Và, đó là việc Chúa làm ra!

Ngày nay, trong số những kẻ mang danh là Cơ-đốc nhân mà chống nghịch những người vâng giữ các điều răn của Chúa, cũng sẽ có một số người ăn năn và sẽ cùng với các con dân chân thật của Chúa thờ phượng Chúa bằng tinh thần và lẽ thật.

Và biết rằng Ta yêu ngươi: Khi đó, những kẻ từng chống nghịch Hội Thánh nhưng đã ăn năn, sẽ hiểu biết được rằng, Chúa yêu những con dân chân thật của Ngài như thế nào. Vì khi đó, chính họ mới nhận được và hiểu được tình yêu của Chúa. Chỉ những ai hết lòng sống theo Lời Chúa mới nhận được và hiểu được tình yêu của Ngài dành cho những ai thuộc về Ngài.

10 Vì ngươi đã giữ lời của sự nhẫn nại Ta, Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách là giờ sẽ đến trên mọi người trong thế gian để thử nghiệm những kẻ ở trên đất.

Vì ngươi đã giữ lời của sự nhẫn nại Ta: “Lời của sự nhẫn nại Ta” là lời Chúa kêu gọi mọi người trong thế gian “Hãy ăn năn, vì vương quốc Trời đã gần” và lời hứa về sự Chúa sẽ đến để đem con dân Chúa đi với Ngài:

“Kỳ đã trọn, Vương Quốc Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin Tin Lành” (Mác 1:15).

“Lòng các ngươi chớ bối rối. Hãy tin nơi Đức Chúa Trời, cũng hãy tin nơi Ta. Trong nhà của Cha Ta có nhiều chỗ ở, nếu không, Ta đã nói với các ngươi. Ta đi để sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đã đi và sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi; Ta sẽ trở lại và đem các ngươi đến với Ta, hầu cho, Ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó” (Giăng 14:1-3).

Những ai thật lòng ăn năn tội, tin nhận Tin Lành, vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời, và chờ đợi Đức Chúa Jesus Christ trở lại, thì họ là những người giữ lời của sự nhẫn nại của Đức Chúa Jesus Christ.

Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách là giờ sẽ đến trên mọi người trong thế gian để thử nghiệm những kẻ ở trên đất: Đây là lời hứa dành riêng cho con dân Chúa sống trong Thời Hội Thánh. Đối với con dân Chúa tại Hội Thánh Phi-la-đen-phi cũng như con dân Chúa tại các Hội Thánh địa phương khác trong suốt chiều dài lịch sử của Hội Thánh, là những người cũng hết lòng trung tín với Chúa, thì họ sẽ không bị hình phạt chung với người thế gian.

Trong lịch sử của loài người, từng hồi, từng lúc Chúa giáng hình phạt trên thế gian tội lỗi và Ngài luôn luôn đem con dân chân thật của Ngài ra khỏi những sự hình phạt ấy. Thời xưa Chúa đã giữ gia đình Nô-ê, một người rao giảng công bình (II Phi-e-rơ 2:5), khỏi sự Ngài hình phạt toàn thế gian bằng một Cơn Nước Lụt. Sau đó, Chúa đã giữ gia đình của Lót, cũng là một người công bình (II Phi-e-rơ 2:17) ra khỏi cơn mưa lửa hủy diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ. Khi Chúa sai dân I-sơ-ra-ên hủy diệt thành Giê-ri-cô thì Ngài cũng giữ cho người kỹ nữ Ra-háp và gia đình bà khỏi sự bị tàn sát chung với dân thành Giê-ri-cô. Một ngày kia, Chúa cũng sẽ đem tất cả những con dân chân thật trong Hội Thánh của Ngài ra khỏi thế gian, trước khi Ngài giáng hình phạt xuống toàn thế gian trong suốt bảy năm.

Sự hình phạt này sẽ là vô tiền khoáng hậu, nghĩa là trước chưa có và sau này cũng không hề có. Chính lời tiên tri của Đức Chúa Jesus Christ đã khẳng định như vậy:

“Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát; vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau này cũng không hề có nữa. Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu; nhưng vì cớ các người được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt” (Ma-thi-ơ 24:20-22).

Tất cả những ai được đọc hoặc nghe bài giảng này, thì đã nhận được lời cảnh cáo và kêu gọi của Chúa. Hãy ăn năn tội, tin nhận Tin Lành, tức là tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ, và vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời, để được Chúa giữ cho khỏi giờ thử thách kinh hoàng của Kỳ Tận Thế, như đã được mô tả chi tiết trong những đoạn còn lại của sách Khải Huyền.

11 Này, Ta đến mau chóng! Hãy giữ vững những điều ngươi có thì không ai có thể lấy mão của ngươi.

Này, Ta đến mau chóng: Như chúng ta đã từng học qua trong các bài trước, sự Chúa đến có thể là đến với riêng từng cá nhân, với Hội Thánh tại một địa phương, để hình phạt những kẻ có tội mà không chịu ăn năn. Nhưng Chúa cũng sẽ đến chung với toàn Hội Thánh, bao gồm tất cả các thánh đồ đang sống lẫn các thánh đồ đã chết, để ban cho mỗi người một thân thể bất tử và đem Hội Thánh ra khỏi thế gian. Trạng từ “mau chóng” được dùng ở đây cùng là một từ ngữ được dùng trong Khải Huyền 2:16. Tuy nhiên, trong Khải Huyền 2:16 Chúa cảnh cáo rằng Ngài sẽ mau chóng đến để đoán phạt những kẻ có tội mà không ăn năn. Còn trong Khải Huyền 3:11 thì Ngài sẽ mau chóng đến để ban thưởng cho những ai trung tín với Ngài.

Hãy giữ vững những điều ngươi có: Chúa sẽ đến để ban thưởng cho những ai trung tín với Ngài một cách nhanh chóng, cho nên, con dân Chúa hãy nhẫn nại, chịu khổ vì danh Chúa, và sốt sắng hầu việc Chúa thêm một thời gian ngắn nữa. “Giữ vững điều ngươi có” tức là hết lòng vâng giữ các điều răn của Chúa, trông cậy nơi các lời hứa của Ngài, không làm ra một điều gì có tính cách chối bỏ danh Chúa.

Thì không ai có thể lấy mão của ngươi: Nghĩa là sự ban thưởng của Chúa là chắc chắn cho những ai trung tín với Ngài. Chiếc mão tiêu biểu cho vinh quang dành cho người thắng cuộc trong các cuộc thi. Chiếc mão cũng tiêu biểu cho phần thưởng là quyền cai trị và quyền được thuộc về dòng dõi thánh của Đức Chúa Trời. Ma-la-chi 2:15 chép:

“Hơi sống của Thiên Chúa dầu có dư dật, chỉ làm nên một người mà thôi. Nhưng vì sao chỉ làm một người? Ấy là vì tìm một dòng dõi thánh.”

I Phi-e-rơ 2:9 chép:

“Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh là dân thuộc về Ngài, để cho anh em rao giảng nhân đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài.”

Hội Thánh của Chúa sẽ được kết hợp với Đức Chúa Jesus Christ cách mầu nhiệm (Khải Huyền 19:6-9), và mỗi người sẽ được Đức Chúa Jesus Christ ban thưởng cách xứng đáng (Khải Huyền 22:12).

12 Người nào thắng, Ta sẽ cho làm trụ trong đền của Đức Chúa Trời Ta và người sẽ không ra khỏi đó nữa. Ta sẽ viết trên người tên của Đức Chúa Trời Ta, tên của thành Đức Chúa Trời Ta là Giê-ru-sa-lem mới từ nơi Đức Chúa Trời Ta ở trên trời giáng xuống và tên mới của Ta.’

Người nào thắng: Đây là lần thứ sáu Chúa dùng từ ngữ “người nào thắng.” Định nghĩa của “người thắng” được dùng ở đây vẫn không thay đổi: người thắng là người giữ vững đức tin nơi Chúa, sống đúng theo Lời Chúa, tức là tin cậy sự cứu rỗi của Đức Chúa Jesus Christ và vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời cho đến khi ra khỏi cuộc đời này.

Ta sẽ cho làm trụ trong đền của Đức Chúa Trời Ta: Thánh Kinh cho biết Hội Thánh là đền thờ của Thiên Chúa:

“Anh em chẳng biết mình là đền thờ của Thiên Chúa, và Đấng Thần Linh của Đức Chúa Trời ở trong anh em sao” (I Cô-rinh-tô 3:16)?

“Anh em chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Thiên Chúa, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Bởi vì anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể và tinh thần mình đã thuộc về Đức Chúa Trời mà làm vinh hiển Đức Chúa Trời” (I Cô-rinh-tô 6:19).

“Có thế nào hiệp đền thờ của Thiên Chúa lại với hình tượng tà thần? Vì chúng ta là đền thờ của Thiên Chúa Hằng Sống, như Đức Chúa Trời đã phán rằng: Ta sẽ ở và đi lại giữa họ; Ta sẽ làm Thiên Chúa của họ, và họ làm dân Ta” (II Cô-rinh-tô 6:16).

“Dường ấy anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người chung vương quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời; đã được dựng nên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Jesus Christ là đá góc nhà. Trong Ngài, cả cấu trúc cùng nhau phát triển thành một đền thờ thánh trong Chúa. Trong Ngài, anh em được xây dựng thành chỗ ở của Đức Chúa Trời, trong tinh thần” (Ê-phê-sô 2:19-22).

Vì thế, làm trụ trong đền của Đức Chúa Trời tức là trở thành những người giữ các nhiệm vụ quan trọng trong Hội Thánh của Ngài. Đức Chúa Jesus Christ gọi Đức Chúa Cha là “Đức Chúa Trời Ta” vì Ngài hoàn toàn vâng phục Đức Chúa Cha trong địa vị của một người vâng phục Đức Chúa Trời. Thánh Kinh chép:

“Ngài vốn có hình Thiên Chúa, nhưng chẳng coi sự bình đẳng mình với Thiên Chúa là sự nên nắm giữ; chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự” (Phi-líp 2:6-8).

Đức Chúa Jesus Christ là người anh cả gương mẫu cho những ai thuộc về Đức Chúa Trời:

“Vì những ai Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, để cho Con này được làm Con cả ở giữa nhiều anh em” (Rô-ma 8:29).

“Anh em đã được kêu gọi đến sự đó, vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, để cho anh em theo dấu chân Ngài” (I Phi-e-rơ 2:21).

“Hãy có cùng một tâm tình như Đấng Christ Jesus đã có” (Phi-líp 2:5).

Đức Chúa Jesus Christ đã chịu khổ, vâng phục Đức Chúa Trời cho đến chết. Vậy, chúng ta hãy cùng nhau noi theo gương Ngài, chịu khổ vì Lời của Đức Chúa Trời và vì danh Ngài!

Và người sẽ không ra khỏi đó nữa: Những người được ban cho các chức vụ quan trọng trong Hội Thánh trong cõi đời đời, sẽ mãi mãi giữ các chức vụ ấy.

Ta sẽ viết trên người tên của Đức Chúa Trời Ta: Chính Đức Chúa Jesus Christ sẽ viết tên của Đức Chúa Trời trên những người ấy. Tên của Đức Chúa Trời như chúng ta biết hiện nay, là tên “Đấng Tự Hữu Hằng Hữu.” Đành rằng, đây là tên riêng của cả Ba Ngôi Thiên Chúa; nhưng có lẽ trong vương quốc đời đời sẽ có một dấu hiệu nào đó để phân biệt ba thân vị. Loài người có cách phân biệt tên riêng được dùng cho cả cha lẫn con bằng cách thêm vào tên riêng đó các từ: cha hoặc con, hay các từ: đệ nhất hoặc đệ nhị, v.v.. Chúng ta cũng có thói quen viết tên của mình trên các đồ vật thuộc về mình. Sự kiện tên của Đức Chúa Trời được viết trên những người trung tín với Chúa chứng tỏ họ thuộc về Đức Chúa Trời, và họ được vinh dự mang tên của Ngài trên thân thể họ.

Tên của thành Đức Chúa Trời Ta là Giê-ru-sa-lem mới từ nơi Đức Chúa Trời Ta ở trên trời giáng xuống: Ngoài tên của Đức Chúa Trời được viết trên những người trung tín với Chúa, tên của thành thánh Giê-ru-sa-lem mới cũng được viết trên họ. Điều đó chứng minh họ là những người được ở trong thành Giê-ru-sa-lem mới.

Và tên mới của Ta: Cuối cùng là tên mới của Đức Chúa Jesus Christ cũng được viết trên họ. Hiện nay, chúng ta không biết tên mới này là gì. Khải Huyền 19:12 cho biết, khi Đức Chúa Jesus Christ tái lâm trên đất vào cuối của Thời Đại Nạn, thì có một tên được viết trên Ngài, mà không ai biết. Có lẽ đó là tên mới của Đức Chúa Jesus Christ sẽ được viết trên những con dân trung tín của Ngài. Có lẽ, sự kiện viết tên đó nói lên quyền đồng trị của họ với Ngài trong vướng quốc đời đời.

13 Ai có tai, người ấy hãy nghe điều Đấng Thần Linh phán với các Hội Thánh.”

Vẫn là lời kêu gọi chung cho toàn thể con dân Chúa trong mọi thời đại, kể từ Thời Hội Thánh cho đến Thời Đại Nạn, và cả Thời Vương Quốc Ngàn Năm. Hễ ai biết lắng nghe và làm theo (có tai) thì hãy làm theo (nghe) điều Đức Thánh Linh phán truyền.

Ghi Chú

[1] http://vi.wikipedia.org/wiki/Timur_Lenk

[2] Xin tham khảo thêm các bài liên quan đến việc giữ ngày Sa-bát và những việc làm có thể làm trong ngày Sa-bát tại đây: http://www.timhieutinlanh.net/?p=3112

Bấm vào nối mạng dưới đây để tải xuống pdf bài viết này:
https://www.opendrive.com/folders?MV84OTQ4MjcwX1F1aXU1

1. Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống âm thanh mp3 bài giảng này:
https://od.lk/d/MV8xMTUyMDU2NDlf/11532_ChuGiaiKhaiHuyen_03_7-13.mp3

2. Bấm vào nối mạng dưới đây để nghe và tải xuống âm thanh mp3 bài giảng này:
https://soundcloud.com/huynh-christian-timothy/sets/115_kytanthe

Bấm vào nút “play” ► để nghe:

Bấm vào nút “play” ► để nghe:

 

Share This:

2,969 views

Comments are closed.